Về công tác nhân sự, số lượng CBCCVC tính đến 31/12/2025 là 59.298 người giảm 4.918 người (tương đương 7,7%) so với thời điểm trước ngày 01/7/2025 (khi thực hiện tinh gọn bộ máy và CQĐP hai cấp). Đồng thời UBND tỉnh đã trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ đối với CBCCVC được điều động, luân chuyển, biệt phái đến công tác tại các xã miền núi nhằm khuyến khích CBCCVC đăng ký tăng cường về các xã còn khó khăn. Nhằm xây dựng đội ngũ CBCCVC có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc; có trình độ lý luận chính trị vững vàng; có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, tỉnh Nghệ An đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC (tính đến 31/12/2025 đã tổ chức được 89 lớp với 20.233 lượt học viên tham dự)[5]; chương trình đào tạo, bồi dưỡng được thiết kế hợp lý, đáp ứng yêu cầu vận hành CQĐP hai cấp, trong xu hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Về cải cách hành chính, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 3667/QĐ-UBND ngày 30/12/2024 ban hành Kế hoạch CCHC nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An năm 2025[6] với phương châm: “Rõ nội dung công việc; rõ bộ phận tham mưu; rõ cá nhân lãnh đạo, chỉ đạo; rõ thời gian hoàn thành; rõ sản phẩm công việc”. Tính đến tháng 12/2025, trên địa bàn Nghệ An đã công bố, công khai 2.282 thủ tục hành chính (TTHC), bao gồm 1.865 TTHC cấp tỉnh (trong đó có 913 dịch vụ công trực tuyến toàn trình, 952 dịch vụ công trực tuyến một phần); 417 TTHC cấp xã (trong đó có 178 dịch vụ công trực tuyến toàn trình, 239 dịch vụ công trực tuyến một phần) trên Cơ sở dữ liệu của Cổng Dịch vụ công Quốc gia và thực hiện thiết lập quy trình điện tử, cấu hình dịch vụ công cơ bản đầy đủ, kịp thời trên Hệ thống thông tin giải quyết TTHC.
2. Khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện tinh gọn bộ máy, sắp xếp lại ĐVHC cấp xã và mô hình CQĐP hai cấp ở Nghệ An đã phải đối mặt với không ít khó khăn, vướng mắc. Trong đó có một số vấn đề nổi bật như sau:
Thứ nhất, là sự chưa đồng bộ về thể chế và hướng dẫn triển khai từ Trung ương. Các văn bản hướng dẫn về tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, quy trình phối hợp giữa các cấp còn chồng chéo, một số Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của một số Bộ, ngành có nội dung còn khác so với Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các luật chuyên ngành khác[7] gây khó khăn trong thực hiện. Phân cấp, phân quyền gắn chặt với TTHC và hướng dẫn trình tự, thủ tục hành chính trong khi các văn bản hướng dẫn[8] và việc cắt giảm, đơn giản hóa TTHC ở một số Bộ, ngành và lĩnh vực chưa bảo đảm yêu cầu, dẫn đến vướng mắc khi thực hiện ở địa phương.
Thứ hai, nhiệm vụ của cấp xã tăng đột biến về số lượng (với 842 nhiệm vụ từ cấp huyện cũ chuyển về); quy trình, thủ tục trở nên phức tạp hơn (do tính phức tạp của các nhiệm vụ từ cấp huyện cũ chuyển về) và đòi hỏi chuyên môn sâu (nhiệm vụ công chức chuyên môn ở cấp xã trước kia chủ yếu là thực hiện các nhiệm vụ cụ thể không đòi hỏi chuyên môn sâu).
Thứ ba, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) còn hạn chế, năng lực thực hiện công việc trên môi trường số của một số CBCCVC, nhận thức người dân còn hạn chế do vậy chưa đảm bảo cho yêu cầu hoạt động của chính quyền điện tử, chính quyền số (trong đó có dịch vụ công trực tuyến), đặc biệt ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Thứ tư, tình trạng “cục bộ thừa - thiếu biên chế” giữa các địa phương, giữa cấp tỉnh và cấp xã; tình trạng công chức chưa phù hợp giữa chuyên môn đào tạo với nhiệm vụ phải thực hiện vẫn còn nhiều. Việc điều động, biệt phái, tăng cường CBCCVC giữa các đơn vị cấp xã trong tỉnh vẫn còn vướng ở chỗ chưa có quy định về chế độ, chính sách hỗ trợ.
Thứ năm, ở cấp tỉnh, các Sở, ngành trước đây chỉ theo dõi chỉ đạo chuyên môn trực tiếp với 20 đầu mối cấp huyện, nay là 130 đầu mối (cấp xã, phường) trong khi số lượng cán bộ, công chức giảm đi do thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị định 178, Nghị định 154 dẫn tới tình trạng quá tải.
Thứ sáu, khi không còn cấp huyện làm “mắt xích trung gian”, cấp tỉnh phải trực tiếp kiểm tra, giám sát đối với 130 ĐVHC cấp xã, điều này gây áp lực rất lớn cho các cơ quan có thẩm quyền. Nếu không có cơ chế linh hoạt, có công cụ công nghệ hỗ trợ, công tác kiểm tra, giám sát dễ trở thành hoạt động mang tính hình thức, dẫn tới bỏ sót, tạo kẽ hở cho sai phạm, hoặc buông lỏng trong thực thi quyền lực ở cấp xã.
Thứ bảy, còn hiện tượng một số cấp xã chưa chủ động thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, hiện tượng gửi văn bản xin ý kiến những việc đã được phân cấp, phân quyền dẫn đến tình trạng chậm trễ trong công việc của địa phương và quá tải cho các cơ quan chuyên môn ở tỉnh.
Và cuối cùng, điều khó nhất không nằm ở thể chế hay thiết bị, mà là ở tư duy và thói quen quản lý theo nếp cũ chưa thay đổi kịp với mô hình mới. Một số cán bộ, lãnh đạo, quản lý còn e dè, lúng túng trước cơ chế phân quyền mạnh cho cấp xã; một số xã thì bị động, ngại trách nhiệm, chưa dám làm, chưa thực sự chủ động triển khai nhiệm vụ được giao.
3. Bài học kinh nghiệm
Những khó khăn trên là thực tiễn sinh động, đòi hỏi tỉnh Nghệ An phải nhận diện rõ và hành động quyết liệt, đồng bộ, có lộ trình; cần phải có những giải pháp cụ thể để triển khai nhanh hơn, sâu hơn, quyết liệt hơn, đặc biệt là về thể chế, con người, công nghệ và kiểm soát quyền lực. Từ thực tiễn triển khai, cho thấy để bộ máy CQĐP hai cấp vận hành hiệu quả, cần triển khai đồng bộ, quyết liệt và kiên trì nhiều nhóm giải pháp, trong đó có một số giải pháp trọng tâm sau đây:
Trước hết, phải hoàn thiện thể chế một cách khẩn trương và bài bản. Không thể để mô hình CQĐP hai cấp hoạt động mà chưa có hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng. Cần rà soát, điều chỉnh, bổ sung các văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tránh chồng chéo, bỏ sót. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm hỗ trợ của các Sở, ngành cấp tỉnh đối với cấp xã. Phân quyền phải đi đôi với phân trách nhiệm và kiểm soát quyền lực, đây là nguyên tắc căn bản để vận hành bộ máy hành chính liêm chính, hiệu quả.
Thứ hai, phải đặt công tác nhân sự ở cấp xã là then chốt và đột phá. Chúng ta đang giao nhiều nhiệm vụ hơn, yêu cầu chất lượng phục vụ cao hơn đối với cấp xã ‑ nhưng năng lực của một bộ phận CBCCVC chưa đáp ứng được. Do vậy, cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về quản lý nhà nước, pháp luật, CNTT, chuyên ngành cho đội ngũ CBCCVC cấp xã. Cần có chính sách thu hút người giỏi về cơ sở, mạnh dạn luân chuyển cán bộ tỉnh về xã để “cầm tay chỉ việc” trong giai đoạn đầu. Đồng thời, phải tính đến việc phân bổ hợp lý biên chế, có chế độ đãi ngộ phù hợp để tránh tình trạng “căng công việc - thiếu con người - không giữ được người làm được việc”.
Thứ ba, phải đầu tư trang thiết bị đồng bộ, đường truyền ổn định, phần mềm dùng chung từ tỉnh đến cấp xã. Đồng thời, cần xây dựng cơ sở dữ liệu hành chính liên thông, đồng bộ từ dân cư, đất đai, hộ tịch, giáo dục đến y tế, an sinh xã hội… để phục vụ điều hành, ra quyết định và cung cấp dịch vụ công. Việc số hóa toàn bộ quy trình công việc, văn bản, báo cáo và tương tác giữa các cấp phải được đẩy nhanh, không để xã bị tụt lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số.
Thứ tư, đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát là giải pháp đảm bảo kỷ cương. Không thể duy trì cách kiểm tra, giám sát theo kiểu hành chính hóa, hình thức. Cần xây dựng cơ chế kiểm tra linh hoạt, sâu sát, tập trung vào kết quả thực chất thay vì giấy tờ. Mô hình “hành chính lưu động”, đưa các Sở, ngành ở tỉnh về xã làm việc trực tiếp cần được tổ chức thường xuyên và thực chất. Song song với đó, phải phát huy vai trò của HĐND, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và người dân trong giám sát hoạt động chính quyền. Cần có cơ chế tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý trực tiếp của nhân dân đối với CBCCVC thông qua các nền tảng số để từ đó nâng cao trách nhiệm giải trình và cải thiện chất lượng phục vụ.
Thứ năm, tiếp tục đẩy mạnh CCHC, tăng cường kiểm tra, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao đạo đức công vụ; rà soát, đơn giản hóa quy trình, thủ tục giải quyết TTHC; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong quản lý, điều hành. Phải lấy hiệu quả phục vụ làm mục tiêu cuối cùng của CCHC.
Thứ sáu, đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền, theo đó những việc cơ sở đã được phân cấp, ủy quyền phải chủ động nghiên cứu, thực hiện, tránh việc đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên.
Thứ bảy, đề cao trách nhiệm người đứng đầu gắn với văn hoá tổ chức và xây dựng đội ngũ CBCCVC chuyên nghiệp, liêm chính, tận tụy phục vụ nhân dân. Phải lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo, lấy kết quả thực tế làm tiêu chí đánh giá CBCCVC.
Tóm lại, tinh gọn bộ máy, sắp xếp lại CBCCVC và mô hình CQĐP hai cấp không chỉ là thiết kế một cấu trúc tổ chức mới, mà còn là phép thử về bản lĩnh lãnh đạo, năng lực điều hành và khả năng thích ứng của cả hệ thống chính trị trong bối cảnh đổi mới. Thành công bước đầu chính là tiền đề vững chắc, nhưng chặng đường phía trước vẫn còn nhiều việc phải làm, phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới. Theo đó, để mô hình CQĐP hai cấp vận hành đáp ứng yêu cầu “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” cần tiếp tục giữ vững tinh thần đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các địa phương; lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo, lấy hiệu quả thực tiễn làm chuẩn mực.