ThS. Đào Thị Lanh, Nghiên cứu viên chính

Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động

 

1. Lời nói đầu

Trong bối cảnh kỷ nguyên mới với những yêu cầu ngày càng cao về quản trị quốc gia hiện đại, chuyển đổi số toàn diện và cải cách hành chính sâu rộng, Bộ Nội vụ đã có nhiều nỗ lực đáng ghi nhận trong việc đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhà nước. Các kết quả đạt được thể hiện rõ nét ở việc tổ chức bộ máy hành chính ngày càng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả hơn; công tác quản lý biên chế, nhân sự, thi đua - khen thưởng, cải cách hành chính, và chuyển đổi số trong hoạt động nội bộ đều có những bước tiến quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục như: tiến độ hoàn thiện thể chế, chính sách còn chậm; một số cơ chế, chính sách còn chồng chéo; năng lực, tinh thần trách nhiệm của một bộ phận công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu; công tác phối hợp giữa các đơn vị, địa phương đôi khi chưa thật chặt chẽ, đồng bộ. Những hạn chế này cho thấy yêu cầu cấp thiết của việc tiếp tục đổi mới phương thức quản lý, kiện toàn tổ chức bộ máy, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời gian tới.

Từ thực tiễn tổ chức và hoạt động, Bộ Nội vụ đã rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu như: bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng và Chính phủ; chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời rà soát, điều chỉnh chính sách; nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; và tăng cường phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các đơn vị, địa phương... Những kinh nghiệm này là nền tảng quan trọng để Bộ Nội vụ tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong tham mưu chiến lược về tổ chức bộ máy, xây dựng thể chế và quản lý nhân sự của nền hành chính quốc gia, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, liêm chính và phục vụ nhân dân trong kỷ nguyên mới. Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế sâu rộng, Bộ Nội vụ cần tiếp tục tập trung thực hiện đồng thời nhiều giải pháp mang tính nền tảng nhằm giúp Bộ Nội vụ tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt trong quản trị quốc gia hiện đại và hiệu lực trong giai đoạn tới.

2. Một số giải pháp trọng tâm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Bộ Nội vụ đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới

2.1 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của Đảng ủy, lãnh đạo, tập thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của Bộ Nội vụ

Đây được xác định là giải pháp mang tính nền tảng, giữ vai trò mở đường và quyết định đến sự thành bại của toàn bộ quá trình cải cách. Căn cứ hàng đầu xuất phát từ nguyên lý đã được đúc kết: nhận thức thông suốt thì hành động mới quyết liệt. Mọi cuộc cải cách, đặc biệt là cải cách thể chế và tổ chức bộ máy, vốn là lĩnh vực nhạy cảm, đụng chạm trực tiếp đến quyền lợi, chức năng và thói quen, đều vấp phải rào cản lớn nhất là sức ỳ tư duy và chủ nghĩa kinh nghiệm.

Yêu cầu cấp thiết phải đổi mới nhận thức càng trở nên rõ ràng khi quy mô của sự thay đổi hiện nay mang tính cách mạng. Dự thảo Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới khẳng định việc “sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đảm bảo hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là một cuộc Cách mạng”[1]. Cùng với đó, Báo cáo chính trị Đại hội XIV nhấn mạnh việc “tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, không tổ chức cấp huyện”[2]. Những thay đổi triệt để này, cộng hưởng với việc chuyển giao một số chức năng, nhiệm vụ từ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sang Bộ Nội vụ tạo ra một thực thể pháp lý mới, đòi hỏi một hệ tư duy hoàn toàn mới: tư duy kiến tạo, tư duy phục vụ, tư duy số và tư duy quản trị dựa trên kết quả. Nếu không có một cuộc cách mạng về nhận thức, đội ngũ cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ (vốn được hợp nhất từ hai ngành có nghiệp vụ khác biệt) sẽ vô tình trở thành lực cản cho chính những cải cách mà mình tham mưu, bằng cách tiếp tục vận hành theo tư duy quản lý hành chính, quan liêu của kỷ nguyên cũ.

Hơn nữa, Bộ Nội vụ có vị thế đặc thù là “kiến trúc sư trưởng” của bộ máy nhà nước. Một người kiến trúc sư không thể thiết kế một chính quyền số thông minh nếu tư duy của họ vẫn dừng lại ở “nhà cấp bốn” (hành chính giấy tờ). Do đó, Đảng ủy, lãnh đạo và toàn thể cán bộ Bộ Nội vụ phải là những người nhận thức sâu sắc nhất và cam kết nhất về yêu cầu của kỷ nguyên mới. Chỉ khi người người có trọng trách bảo vệ thể chế có nhận thức đúng và trách nhiệm cao, họ mới đủ bản lĩnh chính trị để đấu tranh với tư duy cục bộ, lợi ích nhóm khi tham mưu, thẩm định. Vì vậy, thống nhất nhận thức là giải pháp tiên quyết để đảm bảo sự đồng lòng, quyết tâm chính trị, nhất là khi Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV yêu cầu phải tập trung thực hiện tốt công tác chính trị, tư tưởng tạo sự thống nhất cao trong Đảng, trong hệ thống chính trị và sự đồng thuận trong nhân dân về cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy.

Để tạo ra sự chuyển biến thực chất, việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm phải được cụ thể hóa thành các nội dung trọng tâm như sau:

Một là, thống nhất nhận thức ở cấp chiến lược cho Đảng ủy và lãnh đạo Bộ về tầm vóc lịch sử và tính cấp bách của cuộc cải cách. Phải quán triệt sâu sắc đây là một cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy chứ không phải là một sự chắp vá cơ học. Lãnh đạo Bộ Nội vụ phải là người nhận thức đầu tiên và cam kết chính trị cao nhất về việc vận hành mô hình "tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và mô hình Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực”, chuyển từ tư duy quản lý hành chính đơn thuần sang tư duy quản trị quốc gia hiện đại.

Nội dung nhận thức cốt lõi là quán triệt sâu sắc tầm nhìn chiến lược và tính cấp bách của kỷ nguyên mới. Các đồng chí trong Đảng ủy, lãnh đạo Bộ phải là những người tiên phong trong việc “tự soi, tự sửa”, nhận diện rõ những biểu hiện của tư duy cũ, quan liêu, ngại va chạm trong chính nội bộ Bộ Nội vụ. Phải nhận thức đầy đủ rằng, sự trì trệ của Bộ Nội vụ không chỉ ảnh hưởng đến Bộ, mà sẽ gây tắc nghẽn cho toàn bộ hệ thống hành chính quốc gia. Trách nhiệm của Đảng ủy và lãnh đạo Bộ Nội vụ là người phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám bảo vệ những cán bộ cấp dưới dám tham mưu đột phá, đổi mới. Họ phải là người cầm trịch, định hướng và truyền lửa cải cách, chuyển các nghị quyết Đại hội XIV của Đảng thành tầm nhìn và kế hoạch hành động cụ thể của Bộ, chứ không phải chỉ là học tập mang tính hình thức.

Hai là, tổ chức quán triệt sâu rộng cho thủ trưởng các đơn vị (chủ thể tổ chức thực thi) về phạm vi chức năng, nhiệm vụ mới và đặc thù của Bộ Nội vụ sau khi hợp nhất. Nội dung nhận thức trọng tâm của nhóm này là năng lực chuyển hóa, tức là trách nhiệm cụ thể hóa các chủ trương cải cách của Bộ vào lĩnh vực chuyên môn của đơn vị mình. Để thực hiện điều này, Vụ Tổ chức cán bộ phải tổ chức các đợt sinh hoạt, hội thảo chuyên đề chéo, yêu cầu các đơn vị thuộc Bộ Nội vụ phải hiểu sâu về nghiệp vụ an sinh xã hội, người có công và ngược lại. Biện pháp này nhằm phá bỏ triệt để tư duy cục bộ, bản vị của hai cơ quan cũ, giúp các thủ trưởng nhận thức rõ sự liên thông hữu cơ, đảm bảo tính thống nhất trong tham mưu. Nhận thức của thủ trưởng đơn vị phải thể hiện ở việc dám phân cấp cho cấp dưới, dám ứng dụng công nghệ mới, và dám chịu trách nhiệm về sản phẩm đầu ra của đơn vị mình, thay vì đùn đẩy, né tránh hoặc vin vào các quy định cũ.

Ba là, tạo sự thống nhất nhận thức trong toàn thể cán bộ, công chức, viên chức (chủ thể trực tiếp thừa hành) về vai trò trung tâm của vị trí việc làm. Phải làm cho mọi cá nhân hiểu rõ đây là khâu đột phá, là thước đo duy nhất để quản trị nhân lực trong kỷ nguyên mới. Chương trình hành động Đại hội XIV yêu cầu “Hoàn thiện các đề án vị trí việc làm gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”[3]. Nhận thức này là bắt buộc, bởi nó chính là mắt xích nghiệp vụ liên thông hữu cơ giữa khối tổ chức - biên chế, khối công vụ và khối tiền lương - bảo hiểm xã hội trong cùng một Bộ. Từ đó, mỗi cá nhân phải nhận thức rằng kỷ nguyên mới không chấp nhận một công chức “sáng cắp ô đi, tối cắp về”. Họ phải nhận thức rõ vị trí việc làm của mình đòi hỏi sản phẩm gì, và phải chuyển từ nhận thức làm theo quy trình sang làm theo kết quả, từ tư duy cơ quan ban phát sang tư duy phục vụ.

Bốn là, phát động một cuộc cách mạng trong nhận thức về trách nhiệm và đạo đức công vụ, chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ. Đảng ủy Bộ Nội vụ phải quán triệt và yêu cầu từng đảng viên cam kết khắc phục triệt để tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm trong công việc. Phải xây dựng văn hóa tổ chức mới, lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá, và thực thi nghiêm túc cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

Năm là, nâng cao nhận thức về yêu cầu thích ứng và học tập suốt đời trong môi trường quản lý đa ngành. Để thực thi trách nhiệm công vụ theo tinh thần phục vụ, đặc biệt trong bối cảnh nhiều nghiệp vụ nhạy cảm (như thẩm định, thanh tra, tuyển dụng, chính sách xã hội), mỗi cán bộ phải nhận thức sâu sắc về liêm chính. Hơn nữa, để đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của kỷ nguyên mới và mô hình tổ chức mới, mỗi cá nhân phải nhận thức được yêu cầu bắt buộc về học tập suốt đời, chủ động nâng cao kỹ năng số, trình độ ngoại ngữ, và tư duy phản biện để thích ứng, nếu không muốn bị chính kỷ nguyên mới đào thải.

Sáu là, tập trung nâng cao nhận thức chuyên sâu cho các đơn vị nghiệp vụ then chốt về mô hình tổ chức nhà nước mới. Các kỹ năng và tư duy thích ứng phải được vận dụng ngay vào việc vận hành thể chế mới. Lãnh đạo Bộ Nội vụ phải chỉ đạo tổ chức các hội thảo, tập huấn cấp tốc về việc vận hành thông suốt tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Đội ngũ cán bộ Bộ Nội vụ, đặc biệt là các đơn vị như Vụ Chính quyền địa phương và Vụ Tổ chức - Biên chế, phải là người hiểu rõ nhất, tham mưu chuẩn nhất về cách thức tiếp tục phân định rõ thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã trong bối cảnh không còn cấp huyện, đảm bảo không để xảy ra khoảng trống pháp lý hay khủng hoảng trong điều hành tại cơ sở.

Để các nội dung nhận thức trên thành hành động thực tế, cần triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp sau:

Một là, đổi mới căn bản công tác nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết, chủ trương: Biện pháp này đòi hỏi Đảng ủy Bộ Nội vụ và Vụ Tổ chức cán bộ phải tiên phong. Cần kiên quyết chấm dứt tình trạng "học tập" nghị quyết mang tính hình thức, đánh trống ghi tên. Thay vào đó, tổ chức các hội thảo chuyên đề sâu (theo từng lĩnh vực), các buổi đối thoại chính sách có tính tranh luận cao, mời các chuyên gia hàng đầu (kể cả chuyên gia quốc tế) đến nói chuyện về các mô hình quản trị công hiện đại. Đặc biệt, sau mỗi đợt học tập, 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý (từ cấp phòng trở lên) phải có chương trình hành động cá nhân, cam kết rõ ràng về việc sẽ thay đổi điều gì trong công việc của mình để đáp ứng yêu cầu mới, và cam kết này phải được công khai, theo dõi, làm cơ sở đánh giá cuối năm.

Hai là, gắn kết nhận thức và trách nhiệm với công tác đánh giá, quy hoạch cán bộ: Đây là biện pháp cứng và hiệu quả nhất. Đảng ủy Bộ Nội vụ, lãnh đạo Bộ chỉ đạo Vụ Tổ chức cán bộ xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cán bộ, trong đó bổ sung các tiêu chí cụ thể về tư duy đổi mới và hiệu quả thực thi cải cách. Chẳng hạn, một thủ trưởng đơn vị được coi là nhận thức kém, trách nhiệm thấp nếu đơn vị đó trì trệ trong chuyển đổi số, chậm trễ trong việc xây dựng vị trí việc làm, hoặc để xảy ra tiêu cực, sách nhiễu. Ngược lại, phải ưu tiên quy hoạch, bổ nhiệm, khen thưởng những cá nhân (bất kể tuổi tác, thâm niên) có nhận thức mới, dám tham mưu, dám làm và có sản phẩm cải cách cụ thể. Phải biến nhận thức từ một phạm trù “mềm” thành một tiêu chí “cứng” trong công tác cán bộ.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng: Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Bộ Nội vụ phải xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát chuyên đề về việc thực thi các nghị quyết cải cách. Biện pháp này nhằm uốn nắn các nhận thức lệch lạc và xử lý các hành vi thiếu trách nhiệm. Cần tập trung vào việc phát hiện và xử lý nghiêm các biểu hiện nói không đi đôi với làm, hoặc các hành vi cố tình lợi dụng cải cách để trục lợi (chẳng hạn: chia tách, thành lập tổ chức mới không cần thiết). Việc kiểm tra, giám sát phải đi liền với việc thúc đẩy cơ chế “tự soi, tự sửa” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII) trong các buổi sinh hoạt chi bộ thường kỳ.

Bốn là, đẩy mạnh truyền thông nội bộ và xây dựng văn hóa tổ chức kiến tạo: Văn phòng Bộ Nội vụ, Trung tâm Công nghệ thông tin, Báo điện tử… phải trở thành “binh chủng” chủ lực trong việc lan tỏa nhận thức mới. Cần xây dựng các chuyên mục, bản tin nội bộ, các cuộc thi... về “Sáng kiến cải cách”, “Gương mặt đổi mới”. Quan trọng hơn, lãnh đạo Bộ phải định kỳ tổ chức các buổi đối thoại trực tiếp với công chức, viên chức lắng nghe các vướng mắc, tâm tư, đặc biệt là nỗi lo của họ trước các yêu cầu cải cách (như tinh giản, thay đổi vị trí...), để giải đáp và cởi trói tư duy, tạo sự đồng thuận. Xây dựng một văn hóa tổ chức cởi mở, nơi mà sự sáng tạo được khuyến khích và sự trì trệ bị lên án.

2.2 Kiện toàn, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối; hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo đảm cho hoạt động của Bộ Nội vụ đạt hiệu lực, hiệu quả

Giải pháp này là một yêu cầu “tự thân” và mang tính tiền đề, xuất phát từ chính vị thế đặc thù của Bộ Nội vụ: là cơ quan tham mưu cho Chính phủ về cải cách tổ chức bộ máy. Sẽ là một mâu thuẫn sâu sắc và làm suy giảm uy tín nếu cơ quan chủ trì công cuộc “tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả” lại duy trì một cơ cấu nội bộ cồng kềnh, nhiều tầng nấc, hoặc còn tình trạng chồng chéo chức năng. Kỷ nguyên mới đòi hỏi Bộ Nội vụ, với tư cách là trái tim của cải cách hành chính, phải là mô hình gương mẫu nhất về sự tinh gọn và khoa học. Yêu cầu này càng cấp thiết khi Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đặt ra mục tiêu “Vận hành tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo mô hình mới thông suốt, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu”[4] và “Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và sắp xếp, tinh gọn tổ chức bên trong của các cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ pháp lý trực tiếp cho việc kiện toàn này chính là Nghị định số 25/2025/NĐ-CP, vốn đã ban hành khung cơ cấu tổ chức mới của Bộ sau sáp nhập. Tuy nhiên, từ khung pháp lý đến vận hành thực tế là một khoảng cách lớn. Giải pháp này nhằm mục đích hiện thực hóa Nghị định số 25/2025/NĐ-CP: phải rà soát, loại bỏ triệt để các điểm nghẽn và sự chồng chéo chức năng còn sót lại theo nguyên tắc “một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính”. Hơn nữa, cơ cấu tổ chức phần cứng và cơ chế, chính sách phần mềm là hai mặt của một thể thống nhất. Một tổ chức tinh gọn không thể vận hành hiệu quả nếu vẫn bị trói buộc bởi các cơ chế, chính sách cũ. Do đó, đây là giải pháp phần cứng then chốt để đảm bảo Bộ Nội vụ không chỉ thực hiện cải cách bằng lời nói, mà bằng chính hình mẫu tổ chức, đảm bảo bộ máy mới thực sự “hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” chứ không phải là một phép cộng cơ học.

Để thực hiện giải pháp này, cần tập trung thực hiện các nội dung trọng tâm như sau:

Một là, tiến hành tổng rà soát, đánh giá lại một cách khoa học, thực chất về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ. Nội dung này đòi hỏi lãnh đạo Bộ chỉ đạo quyết liệt, Vụ Tổ chức cán bộ và Vụ Pháp chế là đơn vị chủ trì tham mưu. Phải dũng cảm nhận diện và bóc tách các chức năng, nhiệm vụ đang bị chồng chéo (điển hình như giữa các Vụ chuyên ngành); những nhiệm vụ trùng lặp với các Bộ khác (như Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính ) và những nhiệm vụ không còn phù hợp với chức năng quản lý nhà nước trong kỷ nguyên mới hoặc có thể phân cấp mạnh mẽ cho địa phương, chuyển giao cho xã hội thực hiện. Kết quả của việc rà soát này phải là một bản đồ chức năng rõ ràng, làm cơ sở khoa học cho việc sắp xếp ở nội dung thứ hai.

Hai là, trên cơ sở kết quả rà soát, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, xây dựng Đề án tổng thể sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức bên trong của Bộ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, tập thể lãnh đạo Bộ giao Vụ Tổ chức cán bộ là cơ quan chủ trì, thường trực tham mưu xây dựng Đề án. Nội dung cốt lõi là kiên quyết hợp nhất các đơn vị có chức năng tương đồng; sáp nhập các đơn vị có quy mô nhỏ, hoạt động không hiệu quả; giải thể các tổ chức không còn phù hợp. Mục tiêu là giảm tối đa đầu mối cấp Vụ, Cục; đặc biệt là giảm mạnh cấp quản lý trung gian hướng tới mô hình tổ chức tinh gọn về tầng nấc, linh hoạt, hoạt động chủ yếu dựa trên chế độ chuyên viên (có năng lực tổng hợp và tính chuyên nghiệp cao), thay vì mô hình phân cấp hành chính nhiều tầng nấc.

Ba là, hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách nội bộ để vận hành cơ cấu tổ chức mới. Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với Văn phòng Bộ và các đơn vị liên quan, tham mưu cho Đảng ủy, Lãnh đạo Bộ ban hành mới hoặc sửa đổi toàn diện Quy chế làm việc của Bộ. Quy chế mới phải định nghĩa rõ ràng, rành mạch thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân của từng lãnh đạo, từng thủ trưởng đơn vị theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm”. Phải thể chế hóa các quy trình nghiệp vụ theo hướng liên thông điện tử, giảm giấy tờ, và ban hành hệ thống KPIs (chỉ số đánh giá hiệu quả công việc) khoa học cho từng đơn vị và cá nhân.

Bốn là, quyết liệt đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền cả bên trong và bên ngoài. Đảng ủy, lãnh đạo Bộ phải gương mẫu thực hiện việc phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ hơn, rõ ràng hơn cho Thủ trưởng các đơn vị, chấm dứt tình trạng ôm đồm sự vụ, dành thời gian tập trung cho chiến lược. Đồng thời, các Vụ chuyên ngành (như Vụ Chính quyền địa phương, Vụ Công chức - Viên chức) phải chủ động tham mưu cho Bộ, trình Chính phủ các chính sách phân cấp thực chất cho chính quyền địa phương trong các lĩnh vực quản lý của ngành (như tuyển dụng, quản lý biên chế, tổ chức bộ máy tại chỗ), để Bộ Nội vụ thực sự tập trung vào vai trò quản lý nhà nước vĩ mô, xây dựng thể chế và thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm.

Năm là, tái cấu trúc mạnh mẽ các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ. Lãnh đạo Bộ chỉ đạo Vụ Tổ chức cán bộ và Vụ Kế hoạch - Tài chính phối hợp với Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp xây dựng lộ trình đẩy nhanh tự chủ (tài chính và tổ chức) theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW. Phải tách bạch rõ chức năng quản lý nhà nước của Bộ và chức năng cung cấp dịch vụ công của các đơn vị này. Đối với các dịch vụ không nhất thiết phải do nhà nước nắm giữ, cần nghiên cứu phương án xã hội hóa, cổ phần hóa để giảm gánh nặng biên chế và ngân sách, đồng thời tạo động lực cho các đơn vị này phát triển năng động theo cơ chế thị trường.

Những biện pháp cụ thể để tổ chức triển khai giải pháp gồm:

Một là, thành lập ngay Ban Chỉ đạo hoặc Tổ Công tác đặc biệt của Bộ về sắp xếp, kiện toàn tổ chức. Biện pháp này đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất và quyết liệt. Ban Chỉ đạo phải do đồng chí Bộ trưởng trực tiếp làm Trưởng ban, thành viên là các đồng chí Bí thư Đảng ủy, Lãnh đạo Bộ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy và Thủ trưởng các đơn vị then chốt (Tổ chức cán bộ, Pháp chế, Văn phòng). Ban Chỉ đạo có thẩm quyền cao nhất trong việc chỉ đạo xây dựng đề án, phê duyệt lộ trình và xử lý ngay các vướng mắc, điểm nghẽn (đặc biệt là sự chống đối, trì trệ từ các đơn vị bị ảnh hưởng) trong quá trình thực hiện.

Hai là, xây dựng Đề án sắp xếp tổng thể dựa trên phương pháp luận khoa học. Giao Vụ Tổ chức cán bộ là cơ quan thường trực, huy động trí tuệ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính và Quản trị công, Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động xây dựng Đề án chi tiết. Biện pháp này đòi hỏi Đề án không được làm chủ quan, duy ý chí. Phải dựa trên: (1) Phân tích, đánh giá kỹ lưỡng chuỗi giá trị và khối lượng công việc thực tế của từng mảng chức năng; (2) Học tập kinh nghiệm mô hình tổ chức Bộ Nội vụ (hoặc tương đương) của các quốc gia phát triển, có nền hành chính hiệu quả và tương đồng về điều kiện; và (3) Lấy chuyển đổi số làm trung tâm để thiết kế mô hình, đảm bảo tổ chức mới phải gắn liền với quy trình điện tử.

Ba là, ban hành kế hoạch và lộ trình xử lý dứt điểm vấn đề nhân sự dôi dư sau sắp xếp. Đây là biện pháp nhân văn nhưng kiên quyết. Vụ Tổ chức cán bộ phối hợp với Đảng ủy xây dựng các phương án cụ thể. (1) Ưu tiên đào tạo lại, bồi dưỡng để bố trí sang các vị trí mới còn thiếu. (2) Thực hiện luân chuyển, điều động sang các đơn vị khác. (3) Áp dụng tối đa và vận dụng linh hoạt các chính sách nghỉ hưu trước tuổi, thôi việc theo các Nghị định mới của Chính phủ (như Nghị định 29/2023/NĐ-CP). Phải làm tốt công tác tư tưởng, đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng, tránh gây tâm lý hoang mang, mất đoàn kết nội bộ.

Bốn là, ứng dụng công nghệ làm động lực và công cụ giám sát, ràng buộc cho việc tinh gọn. Trung tâm Công nghệ thông tin và Văn phòng Bộ phải đi đầu. Biện pháp cụ thể là triển khai ngay một hệ thống Quản lý công việc và quy trình nội bộ tích hợp toàn diện. Khi mọi quy trình (từ trình ký, thẩm định, đến ban hành) được số hóa 100% và đo đếm được thời gian, nó sẽ tự động làm lộ rõ các nút thắt cổ chai, các khâu trung gian thừa thãi hoặc các đơn vị/cá nhân yếu kém. Dữ liệu này chính là bằng chứng khách quan, không thể chối cãi để Ban Chỉ đạo ra quyết định sắp xếp, tinh gọn một cách chính xác.

Năm là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và hậu kiểm việc thực thi cơ chế, chính sách mới. Vụ Tổ chức cán bộ và Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Bộ Nội vụ phải vào cuộc. Sau khi ban hành Quy chế làm việc mới và thực hiện phân cấp, phải tổ chức thanh tra, kiểm tra đột xuất và định kỳ việc chấp hành của các đơn vị. Biện pháp này nhằm đảm bảo việc phân cấp, ủy quyền không bị lạm dụng hoặc làm sai. Phải đánh giá thực chất hiệu quả của mô hình tổ chức mới sau 6 tháng, 1 năm vận hành, xem sản phẩm đầu ra có tốt hơn không, có nhanh hơn không, để kịp thời điều chỉnh, đảm bảo mục tiêu cuối cùng là hiệu lực, hiệu quả, chứ không phải là tinh gọn một cách hình thức.

2.3 Nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực và kỹ năng giải quyết nhiệm vụ của công chức, viên chức, người lao động

Đây là giải pháp giữ vị trí then chốt của then chốt, có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến sự thành bại của mọi nỗ lực cải cách. Cơ sở của giải pháp này xuất phát từ một chân lý phổ quát: con người là trung tâm, là chủ thể của mọi hoạt động. Một cơ cấu tổ chức dù được thiết kế tinh gọn, khoa học đến đâu; một hệ thống nhận thức dù được quán triệt sâu sắc thế nào, cũng sẽ trở nên vô nghĩa nếu đội ngũ vận hành nó yếu kém về năng lực và suy thoái về đạo đức.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”. Trong kỷ nguyên mới, yêu cầu này càng trở nên cấp bách. Kỷ nguyên của Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư 4.0 và hội nhập toàn cầu đòi hỏi một chất lượng nguồn nhân lực hoàn toàn mới, được Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV xác định là một trong ba đột phá chiến lược: “Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” và “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp... có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới”.

Căn cứ thực tiễn cho thấy, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ Bộ Nội vụ đã tăng lên theo cấp số nhân. Nếu như trước đây, một chuyên viên Vụ Công chức – Viên chức chỉ cần am hiểu luật hành chính, thì nay còn phải am hiểu cả định mức lao động (thuộc chức năng của Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội) để xây dựng vị trí việc làm. Một lãnh đạo Bộ nay phải xử lý các vấn đề xã hội cực kỳ phức tạp như chính sách cho người có công hay an toàn, vệ sinh lao động. Chương trình hành động của Trung ương cũng giao Bộ Nội vụ nhiệm vụ chiến lược như “Hoàn thiện các đề án vị trí việc làm” và “Xây dựng chính sách lao động, việc làm để thích ứng với vấn đề già hoá dân số nhanh”. Nếu không nâng cao năng lực, đội ngũ cán bộ này sẽ không thể gánh vác sứ mệnh mới. Đặc biệt, nếu đội ngũ kiến trúc sư thể chế này thiếu tầm nhìn, lạc hậu về trình độ, hoặc bị chi phối bởi tiêu cực, lợi ích nhóm, thì sản phẩm họ tạo ra sẽ là những sản phẩm lỗi, gây nguy hại khôn lường cho sự phát triển của đất nước.

Để làm được điều đó, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện những nội dung sau:

Một là, đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng, bồi đắp phẩm chất đạo đức cách mạng, liêm chính công vụ và tinh thần phụng sự. Đây là gốc của người cán bộ. Trách nhiệm này là của toàn thể đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, mà nòng cốt là cấp ủy, người đứng đầu các đơn vị. Nội dung không chỉ là học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, mà phải tập trung vào việc “Tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện...”[5] và xây dựng một văn hóa liêm chính thực chất. Phải làm cho mỗi công chức, viên chức Bộ Nội vụ, đặc biệt là những người làm ở các vị trí quan trọng, nhạy cảm (thẩm định tổ chức, biên chế; tuyển dụng, bổ nhiệm), có sức đề kháng cao, miễn dịch với tiêu cực, dị ứng với tham nhũng, và tuyệt đối trung thành với lợi ích chung của quốc gia.

Hai là, đổi mới toàn diện tư duy chiến lược và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Chủ thể trọng tâm là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và đội ngũ chuyên viên, chuyên gia trực tiếp tham mưu, thẩm định chính sách. Nội dung không chỉ là nắm vững các văn bản, quy định hiện hành, mà phải trang bị tư duy quản trị công hiện đại, tư duy pháp lý, tư duy kinh tế và năng lực phân tích chính sách dựa trên bằng chứng. Họ phải đủ tầm để kiến tạo thể chế, chứ không phải chạy theo sự vụ. Phải xây dựng đội ngũ chuyên gia của Bộ Nội vụ ngang tầm khu vực, đủ năng lực đối thoại sòng phẳng, tham mưu sắc sảo cho Chính phủ trong việc thiết kế mô hình tổ chức nhà nước trong bối cảnh mới.

Ba là, phổ cập và nâng cao năng lực số, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Trách nhiệm thuộc về toàn thể công chức, viên chức không trừ một ai. Kỷ nguyên mới là kỷ nguyên số. Không thể xây dựng Chính phủ số nếu cán bộ Bộ Nội vụ hạn chế về công nghệ. Nội dung là phải chuyển từ trạng thái biết dùng máy tính sang trạng thái tư duy trên nền tảng số. Lãnh đạo phải biết ra quyết định dựa trên dữ liệu. Chuyên viên phải thành thạo các kỹ năng phân tích dữ liệu, vận hành quy trình điện tử và đảm bảo an toàn thông tin. Đây là kỹ năng sinh tồn bắt buộc, là yêu cầu tối thiểu để có thể hoàn thành nhiệm vụ trong mô hình tổ chức “phẳng”, hiện đại.

Bốn là, đột phá trong việc nâng cao kỹ năng hội nhập quốc tế và các kỹ năng mềm. Chủ thể thực hiện là đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý và trong diện quy hoạch. Nội dung cấp bách là ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh. Công chức, viên chức Bộ Nội vụ phải đủ khả năng tự mình nghiên cứu, học tập kinh nghiệm quốc tế về tổ chức bộ máy, cải cách công vụ của các nước tiên tiến, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào phiên dịch hoặc các báo cáo tổng hợp thứ cấp. Bên cạnh việc củng cố kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải bồi dưỡng một cách thực chất và toàn diện các kỹ năng mềm thiết yếu, bởi đây là chìa khóa để nâng cao hiệu quả thực thi công vụ và xây dựng một nền hành chính hiện đại, phục vụ. Trong đó, kỹ năng giao tiếp và truyền thông chính sách không chỉ là giao tiếp ứng xử thông thường mà đối với công chức, viên chức đây còn là năng lực truyền tải các chủ trương, chính sách của Nhà nước một cách rõ ràng, minh bạch và thuyết phục đến người dân, doanh nghiệp, qua đó giúp tạo sự đồng thuận xã hội và tiếp nhận phản hồi hiệu quả. Cùng với đó, kỹ năng đàm phán và thuyết phục cũng vô cùng quan trọng, vì trong môi trường công, đàm phán diễn ra thường xuyên, từ việc phối hợp giữa các cơ quan, bảo vệ quan điểm với cấp trên, đến giải quyết khiếu nại của người dân hay làm việc với các đối tác; một công chức đàm phán tốt sẽ biết cách dung hòa lợi ích và xử lý xung đột để đạt mục tiêu chung. Hơn nữa, do công việc hành chính hiện đại mang tính liên ngành và phức tạp, kỹ năng làm việc nhóm (phối hợp) là không thể thiếu, giúp các cá nhân phối hợp nhịp nhàng, tối ưu hóa sức mạnh tập thể để giải quyết các nhiệm vụ đòi hỏi nhiều nguồn lực. Song song đó, kỹ năng tư duy phản biện đóng vai trò là năng lực cốt lõi để phân tích, đánh giá vấn đề một cách khách quan, đa chiều, giúp cán bộ, công chức nhận diện rủi ro, thách thức trong hoạch định chính sách, tránh các quyết định cảm tính và không chỉ biết tuân lệnh mà còn biết tham mưu hiệu quả. Từ nền tảng tư duy đó, kỹ năng giải quyết vấn đề thể hiện năng lực thực tiễn để xử lý các tình huống phát sinh, chủ động tìm ra nguyên nhân gốc rễ và đề xuất các giải pháp khả thi, sáng tạo, tuân thủ pháp luật. Rõ ràng, việc trang bị đồng bộ các kỹ năng mềm này sẽ góp phần xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, năng động, có khả năng thích ứng cao với yêu cầu của tình hình mới.

Năm là, bồi dưỡng, rèn luyện năng lực tổ chức thực tiễn và bản lĩnh “dám nghĩ, dám làm” cho đội ngũ công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý các cấp.

3. Kết luận

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của sự “vươn mình” mạnh mẽ, đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu đặt ra đối với nền hành chính quốc gia là phải kiến tạo, linh hoạt, tốc độ và hiệu quả. Bộ Nội vụ, với tư cách là cơ quan tham mưu chính cho Chính phủ về tổ chức bộ máy, nền công vụ và cải cách hành chính, đứng ở vị trí then chốt của cuộc cải cách này. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, công tác hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của chính Bộ Nội vụ cần được xem là khâu đột phá chiến lược, là nền tảng bảo đảm để Bộ thực hiện thắng lợi sứ mệnh của mình, dẫn dắt công cuộc cải cách toàn hệ thống.

Việc hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Bộ Nội vụ không đơn thuần là hoàn thiện kỹ thuật hành chính mà chính là quá trình củng cố nền tảng tổ chức, nâng cao năng lực kiến tạo thể chế, xây dựng văn hóa công vụ hiện đại - đáp ứng yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia trong kỷ nguyên mới. Với quyết tâm chính trị cao, sự lãnh đạo thống nhất, khoa học của Đảng ủy Bộ Nội vụ, lãnh đạo Bộ cùng sự chung tay của toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tin tưởng rằng công tác hoàn thiện tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Bộ Nội vụ sẽ ngày càng hiệu quả, hiện đại, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược quốc gia, hiện thực hóa khát vọng “vươn mình” hùng cường, xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc vào năm 2045.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ban Chấp hành Trung ương (2017), Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII), Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
  2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Phụ lục 5 - Về Tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIV.
  3. Bộ Nội vụ (2021), Báo cáo số: 128/BC-BNV, ngày 19/4/2021, Báo cáo Tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 và định hướng giai đoạn 2021 – 2030.
  4. Bộ Nội vụ (2025), Báo cáo Số: 5845/BC-BNV ngày 01/8/2025, Kết quả công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2025 của ngành Nội vụ.
  5. Bộ Nội vụ (2025), Báo cáo Số: 4073/BC-BNV ngày 21/6/2025, Kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính của Bộ Nội vụ 6 tháng đầu năm 2025.
  6. Bộ Nội vụ (2025), Kỷ yếu hội thảo khoa học, Lịch sử, truyền thống và định hướng phát triển của Bộ Nội vụ giai đoạn 2025 – 2045.
  7. Phạm Thị Thu Huyền (2024), Phân tích vai trò, trách nhiệm của Bộ Nội vụ trong xây dựng nền quản trị hiện đại, hiệu quả, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Nội vụ.
 

[1] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Dự thảo Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam.

[2] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

 

[3] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

 

[4] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

 

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.