TS. Bùi Thái Quyên- Phó Trưởng phòng
Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động
Tóm tắt
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số toàn cầu, ngành Nội vụ đối mặt với yêu cầu cấp thiết về phát triển nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ công chức có năng lực công nghệ, tư duy đổi mới sáng tạo và khả năng hội nhập quốc tế. Bài viết phân tích thực trạng nhân lực ngành Nội vụ dựa trên số liệu điều tra gần đây nhất của Viện Khoa học Tổ chức nhà nước vào năm 2021 (nay là Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động) cho thấy hạn chế về kỹ năng số, ngoại ngữ và năng lực thích ứng với môi trường hành chính số hóa từ đó, đề xuất một số giải pháp phát triển và thu hút nhân lực chất lượng cao, gồm: xây dựng khung năng lực số ngành Nội vụ; tăng cường liên kết đào tạo giữa Bộ Nội vụ, các cơ sở giáo dục và doanh nghiệp công nghệ; thực hiện chương trình học bổng, thực tập và tuyển dụng đặc cách cho nhân tài công nghệ; đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút chuyên gia và kiều bào Việt Nam tham gia đào tạo, tư vấn chính sách và chuyển giao tri thức. Việc triển khai các giải pháp này sẽ giúp ngành Nội vụ hình thành đội ngũ công chức “số”, góp phần hiện đại hóa nền hành chính và dẫn dắt tiến trình chuyển đổi số Quốc gia giai đoạn 2025–2035.
1. Mở đầu
Trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp 4.0 và xu thế chuyển đổi số toàn cầu, công nghệ - đặc biệt là công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo - đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn với năng lực quản trị nhà nước hiện đại.
Nghị quyết số 57-NQ/TW năm 2024 của Trung ương đã xác định rõ ràng phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “động lực chính của quá trình phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Bên cạnh đó, chương trình Chuyển đổi số quốc gia[2] đã xác định trọng tâm phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, tạo hành lang pháp lý và định hướng triển khai cho các Bộ, ngành, địa phương.
Ngành Nội vụ, luôn giữ vai trò trung tâm trong quản trị bộ máy nhà nước, công chức - viên chức, tổ chức hành chính cấp Trung ương và địa phương, việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bộ Nội vụ đã chủ động ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 71/NQ-CP (Quyết định số 416/QĐ-BNV ngày 26/4/2025[3]) nhằm đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước nội vụ.
Ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước không chỉ giúp tăng hiệu quả xử lý, minh bạch hóa hoạt động công, mà còn hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu thông qua phân tích thông minh. Ví dụ, công nghệ cho phép đánh giá khối lượng công việc, phân bổ công chức hợp lý, lập mô hình dự báo nhu cầu con người trong cơ quan hành chính. Trong các hoạt động quản lý nhà nước, trí tuệ nhân tạo (AI) đã được gợi mở như một công cụ tăng tốc xử lý hồ sơ, giảm thời gian chờ của người dân, nâng cao độ chính xác và tiết kiệm nguồn lực hành chính.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, năng lực khoa học, công nghệ nội tại của ngành Nội vụ còn nhiều hạn chế: đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) ít người có kiến thức chuyên sâu về dữ liệu, AI, quản trị số; cơ chế thu hút chuyên gia công nghệ vào ngành còn chưa rõ ràng; cơ sở hạ tầng dữ liệu, liên thông thông tin giữa các cơ quan chưa đồng bộ. Những hạn chế này đặt ra thách thức lớn cho việc thực thi chuyển đổi số toàn ngành Nội vụ, nếu không có sự chuẩn bị chiến lược và đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trên cơ sở đó, bài viết nhằm phân tích nhu cầu nhân lực chất lượng cao và đề xuất giải pháp phát triển và thu hút nhân lực chất lượng cao trong ngành Nội vụ góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số, đồng thời tăng cường khả năng dẫn dắt đổi mới sáng tạo trong hệ thống quản trị quốc gia.
Trong khuôn khổ bài viết, phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tổ chức bộ máy, công vụ, công chức, viên chức và cải cách hành chính – là các lĩnh vực cốt lõi của ngành Nội vụ theo nghĩa truyền thống.
Mặc dù trong giai đoạn gần đây, phạm vi quản lý của ngành Nội vụ đã được mở rộng sang một số lĩnh vực như lao động, việc làm, bình đẳng giới…, tuy nhiên các nội dung này không thuộc trọng tâm phân tích của nghiên cứu. Vì vậy, số liệu sử dụng trong bài viết chủ yếu phản ánh thực trạng đội ngũ công chức trong khối quản lý hành chính nhà nước về nội vụ, nhằm bảo đảm tính nhất quán giữa phạm vi nghiên cứu và nội dung phân tích.
2. Thực trạng nhân lực ngành Nội vụ
2.1 Hiện trạng đội ngũ công chức ngành Nội vụ
Theo Viện Khoa học Tổ chức nhà nước (2021)[4], cho thấy, nhìn chung, chất lượng đội ngũ công chức ngành Nội vụ ở mức khá cao, có trình độ chuyên môn và năng lực quản lý tốt.
Bảng 1. Số lượng, trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ công chức quản lý nhà nước ngành Nội vụ (năm 2020)
Đơn vị: Người
|
|
Tổng số
|
Nam
|
Nữ
|
Từ 40 tuổi trở lên
|
Trên 10 năm công tác
|
Đại học
|
Thạc sỹ
|
Tiến sỹ
|
Tin học cơ bản
|
Ngoại ngữ trung cấp
|
Ngoại ngữ cao cấp
|
|
Cả nước
|
9.131
|
4.823
|
4.308
|
4.013
|
3.519
|
6.662
|
2.075
|
58
|
6.001
|
1.542
|
243
|
|
Bộ Nội vụ
|
437
|
|
|
271
|
162
|
219
|
193
|
22
|
|
|
|
|
Các tỉnh
|
8.694
|
|
|
3.742
|
3.422
|
6.443
|
1.882
|
36
|
|
|
|
Nguồn: Báo cáo Dự án điều tra khảo sát cấp bộ DA.03/19, “Điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành Nội vụ”, 2021
Về cơ cấu, tổng số công chức ngành Nội vụ là 9.131 người (tháng 6/2020), trong đó phần lớn là công chức địa phương (95,5%), cho thấy đội ngũ này đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở cơ sở.
Về giới tính và độ tuổi, nam giới chiếm 54%; nhóm công chức trên 40 tuổi chiếm 44%, phản ánh đội ngũ có kinh nghiệm và thâm niên công tác cao (40% có trên 10 năm công tác).
Về trình độ học vấn, tỷ lệ công chức có trình độ đại học trở lên đạt 97%, trong đó đại học chiếm 73%, thạc sĩ 23%, và tiến sĩ 1%. Đây là tỷ lệ rất cao, thể hiện đội ngũ có trình độ chuyên môn vững vàng.
Về trình độ quản lý nhà nước, có tới 96,4% công chức đạt trình độ từ chuyên viên trở lên, trong đó chuyên viên chính chiếm 36,4%, chứng tỏ năng lực hành chính và hiểu biết về quản lý nhà nước của đội ngũ này tương đối tốt.
Về vị trí công tác, 37% công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, cho thấy tỷ lệ cán bộ có năng lực tổ chức, điều hành khá cao.
Trình độ tin học của công chức ngành Nội vụ, theo báo cáo, chủ yếu dừng ở mức cơ bản, 65,7% công chức được đào tạo, bồi dưỡng về tin học cơ bản, cho thấy đội ngũ này có khả năng sử dụng máy tính và các phần mềm văn phòng ở mức đáp ứng được yêu cầu công việc hành chính thông thường. Tuy nhiên, vẫn còn tỷ lệ đáng kể (29%) công chức chưa được đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ tin học đạt chuẩn theo quy định hiện hành[5], cho thấy vẫn tồn tại hạn chế về kỹ năng CNTT trong một bộ phận công chức của ngành. Bên cạnh đó, chỉ 5,3% công chức có chứng chỉ tin học nâng cao, phản ánh tỷ lệ công chức có năng lực tin học chuyên sâu còn thấp.
Trình độ ngoại ngữ của công chức ngành Nội vụ nhìn chung còn ở mức thấp; tỷ lệ công chức đạt trình độ trung cấp và cao cấp còn rất hạn chế, tương ứng là 17% và 2,6%. Còn lại là trình độ sơ cấp hoặc có chứng chỉ nhưng chưa đạt chuẩn (tỷ lệ công chức có chứng chỉ ngoại ngữ khác đạt 48,8%).
Những số liệu này đã phản ánh thực trạng năng lực nhân lực ngành nội vụ trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là khoảng trống về kỹ năng số và ngoại ngữ.
2.2 Một số thách thức về nhân lực của ngành Nội vụ trong bối cảnh phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số quốc gia
Trong bối cảnh sáp nhập tổ chức, tinh gọn bộ máy, và việc ngành phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực mới (khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, dữ liệu quốc gia Chính quyền số…). Ngành Nội vụ phải xây dựng đội ngũ có năng lực quản trị số và khoa học, công nghệ, đáp ứng nhiệm vụ Chính quyền điện tử, dữ liệu công vụ và cải cách thể chế số; Bảo đảm tinh gọn nhưng chuyên nghiệp, linh hoạt sau sáp nhập; Tăng cường liên kết, phối hợp liên ngành và năng lực làm việc đa lĩnh vực; và đặc biệt là đáp ứng mục tiêu mà Bộ Nội vụ đã đặt ra: “đến năm 2030, phần lớn dịch vụ công được cung cấp trực tuyến toàn trình; 100% hồ sơ, dữ liệu hành chính được số hóa và chia sẻ; 100% CBCCVC có mã định danh điện tử; và 80% người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến”[6]. Những mục tiêu này cho thấy yêu cầu rất cao về năng lực số, năng lực quản trị dữ liệu và khả năng vận hành Chính quyền điện tử trong toàn ngành.
Từ đó, có thể nhận diện bốn nhóm thách thức chủ yếu mà nhân lực ngành Nội vụ đang phải đối mặt:
Thứ nhất, thách thức về năng lực ứng dụng CNTT trong công việc. Trong bối cảnh chuyển đổi số, khi các quy trình, dữ liệu và dịch vụ hành chính công ngày càng số hóa, việc thiếu kỹ năng công nghệ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả triển khai Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Với tỷ lệ lớn công chức mới dừng ở mức tin học cơ bản (65,7%) cho thấy khả năng khai thác các phần mềm quản lý, hệ thống dữ liệu và nền tảng số còn hạn chế, đây là một thách thức lớn trong ngành Nội vụ.
Thứ hai, thách thức về năng lực ngoại ngữ và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hợp tác quốc tế và trao đổi thông tin, chính sách với các tổ chức nước ngoài ngày càng nhiều, hạn chế ngoại ngữ trở thành rào cản lớn trong việc tiếp cận tri thức mới, học hỏi mô hình quản lý tiên tiến, cũng như tham gia hiệu quả vào tiến trình cải cách hành chính hiện đại. Phần lớn công chức ngoại ngữ mới đạt trình độ sơ cấp hoặc có chứng chỉ nhưng chưa đạt chuẩn (80,4%) điều này tạo ra không ít khó khăn cho ngành Nội vụ trong quá trình hội nhập và tiếp cận kinh nghiệm quốc tế, đây là một trong các thách thức lớn đối với ngành Nội vụ.
Thứ ba, thách thức về năng lực thích ứng và tư duy đổi mới trong môi trường số. Dù phần lớn công chức có trình độ học vấn cao (97% từ đại học trở lên) nhưng khả năng đổi mới sáng tạo, tư duy số và thích ứng với phương thức làm việc trong môi trường công nghệ cao còn hạn chế. Quá trình chuyển đổi từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang quản lý dữ liệu, quy trình điện tử, và ra quyết định dựa trên phân tích số liệu đòi hỏi đội ngũ công chức phải có tư duy linh hoạt và tinh thần học tập suốt đời, đây là điểm mà nhiều công chức lớn tuổi (chiếm 44% trên 40 tuổi) có thể gặp khó khăn.
Thứ tư, thách thức trong việc nâng cao vai trò dẫn dắt chuyển đổi số của ngành Nội vụ. Ngành Nội vụ giữ vai trò “xương sống” trong công tác tổ chức bộ máy, CBCCVC, do đó nếu chính bản thân đội ngũ công chức của ngành chưa làm chủ được công nghệ, thì việc tham mưu, hướng dẫn và triển khai chuyển đổi số trong toàn hệ thống hành chính nhà nước sẽ gặp trở ngại.
2.3 Nhu cầu nhân lực chất lượng cao ngành Nội vụ (2025 – 2035)
Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đặc biệt là CNTT, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và Chính phủ điện tử, yêu cầu đối với đội ngũ công chức ngành Nội vụ không chỉ dừng lại ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ truyền thống, mà cần năng lực công nghệ, tư duy đổi mới và kỹ năng số hóa. Nhân lực chất lượng cao không chỉ “biết làm việc”, mà còn phải “làm chủ công nghệ, làm chủ dữ liệu và chủ động thích ứng với thay đổi”. Đây vừa là thách thức lớn, vừa là động lực quan trọng để ngành Nội vụ đổi mới toàn diện công tác tổ chức, đào tạo và phát triển đội ngũ công chức, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp và số hóa.
Ngành Nội vụ cần những nhóm nhân lực chất lượng cao phục vụ các nhiệm vụ, bao gồm:
Nhóm thứ 1: Nhân lực cho nhiệm vụ chuyển đổi số và dữ liệu hành chính công, đây là những người thực hiện quản trị dữ liệu, phân tích dữ liệu nhân sự, an ninh mạng, hạ tầng số.
Nhóm thứ 2: Nhân lực thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học-chính sách công, đây là những người phân tích chính sách dựa trên bằng chứng, sử dụng AI trong hoạch định chính sách.
Nhóm thứ 3: Nhân lực thực hiện quản trị nhân sự và hành chính công hiện đại, đây là những người thiết kế tổ chức, đánh giá công vụ bằng công cụ số (HR analytics).
Nhóm thứ 4: Nhân lực thực hiện lưu trữ, hồ sơ điện tử, Chính phủ số, đây là những người biết các công nghệ số hóa tài liệu, quản trị hồ sơ quốc gia, blockchain lưu trữ, v.v.
Nhóm thứ 5: Nhân lực về quản trị chiến lược và cải cách hành chính, thực hiện xây dựng và triển khai chiến lược cải cách hành chính nhà nước (đơn giản hóa thủ tục, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả quản lý công); Phân tích thể chế, xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với chuyển đổi số, Chính quyền số, v.v.
Nhóm thứ 6: Nhân lực về truyền thông công vụ, hợp tác quốc tế, đổi mới sáng tạo, thực hiện các hoạt động truyền thông chính sách, cải cách hành chính tạo niềm tin xã hội, xử lý khủng hoảng truyền thông. Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong đào tạo, cải cách thể chế và quản lý công. Triển khai các sáng kiến đổi mới trong quản lý nhà nước: mô hình sandbox, AI hỗ trợ hành chính công, chính sách thử nghiệm.
Bên cạnh nhu cầu về năng lực CNTT và kỹ năng số chuyên sâu, công chức ngành Nội vụ cần được trang bị nhiều năng lực bổ trợ khác như: ngoại ngữ, tư duy chiến lược và đổi mới sáng tạo, năng lực lãnh đạo số, cùng với cơ chế thu hút và phát triển nhân tài phù hợp. Kỹ năng ngoại ngữ cho công chức ngành Nội vụ phải chú trọng về ngoại ngữ chuyên ngành hành chính - công vụ, CNTT và quản trị công để công chức có thể học hỏi, trao đổi quốc tế hiệu quả hơn.
Nhóm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cần được trang bị năng lực lãnh đạo chuyển đổi số: hiểu biết về dữ liệu, quản trị hệ thống số, ra quyết định trên nền tảng thông tin điện tử và lãnh đạo sự thay đổi trong tổ chức.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển, ngành Nội vụ cần đổi mới cơ chế tuyển dụng, đánh giá và đãi ngộ nhằm thu hút nhân lực có trình độ cao về CNTT, ngoại ngữ, quản trị công. Cần kết hợp đào tạo lại (reskilling) và nâng cấp kỹ năng (upskilling) cho đội ngũ hiện có, đồng thời thu hút nguồn nhân lực trẻ, có tư duy số và năng lực sáng tạo.
3. Giải pháp phát triển và thu hút nhân lực chất lượng cao trong ngành Nội vụ
Ngày 25/10/2024, Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 760/QĐ-BNV về việc Ban hành Kế hoạch thực hành chiến lược Quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045 của Bộ Nội vụ. Theo đó, Bộ Nội vụ không chỉ chú trọng “thu hút” nhân tài về làm việc, mà còn tập trung “giữ chân và phát huy” thông qua chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc, và cơ chế đánh giá minh bạch.
Căn cứ dự báo nhu cầu nhân lực trong giai đoạn mới, việc phát triển và thu hút nhân lực chất lượng cao của ngành Nội vụ cần được triển khai theo ba nhóm giải pháp chủ đạo sau:
3.1 Phát triển và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước
Để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hiện đại hóa nền hành chính, ngành Nội vụ cần tập trung phát triển nguồn nhân lực trong nước thông qua các giải pháp đồng bộ, hướng tới hình thành đội ngũ công chức có năng lực số, tư duy đổi mới sáng tạo và khả năng làm chủ công nghệ.
Thứ nhất, chuẩn hóa và áp dụng “Khung năng lực số ngành Nội vụ”. Bộ Nội vụ cần chuẩn hóa Khung năng lực số dành riêng cho công chức, viên chức trong ngành, dựa trên tham chiếu Khung năng lực số Quốc gia và các mô hình quốc tế (như DigComp - Digital Competence Framework for Citizens của Liên minh Châu Âu[7]); Khung năng lực này sẽ là cơ sở đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của đội ngũ, đồng thời làm căn cứ cho việc đào tạo, tuyển dụng, quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ; Nội dung khung nên bao gồm: năng lực sử dụng và bảo mật dữ liệu; năng lực làm việc trong môi trường số; kỹ năng khai thác, phân tích dữ liệu phục vụ ra quyết định; và năng lực thích ứng với công nghệ mới (AI, Big Data, Blockchain…).
Thứ hai, đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng, tăng cường liên kết đào tạo giữa Bộ Nội vụ – Học viện Hành chính và Quản trị công – Bộ Khoa học và Công nghệ và các trường đại học trọng điểm; Thiết lập mạng lưới hợp tác đào tạo nhân lực công nghệ và quản trị công hiện đại, trong đó Học viện Hành chính và Quản trị công giữ vai trò trung tâm, phối hợp cùng các viện nghiên cứu, các trường đại học CNTT (như Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Công nghệ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội...); Xây dựng chương trình đào tạo liên ngành (Quản trị công – CNTT – Chính sách công – Phân tích dữ liệu) nhằm đào tạo thế hệ công chức có tư duy số, có khả năng vận hành, quản lý và phân tích hệ thống dữ liệu công vụ; tổ chức các khóa bồi dưỡng ngắn hạn về chuyển đổi số, an ninh mạng, quản trị dữ liệu cho cán bộ đương chức; đồng thời mời chuyên gia trong và ngoài nước tham gia giảng dạy.
Thứ ba, hình thành Chương trình học bổng và thực tập công vụ công nghệ cao. Thiết kế Chương trình học bổng "Công chức số tương lai" hướng tới sinh viên, học viên cao học ngành CNTT, Dữ liệu, Chính sách công và Quản trị công; Học bổng bao gồm hỗ trợ tài chính, cơ hội thực tập tại các cơ quan thuộc Bộ Nội vụ, sở Nội vụ địa phương, hoặc tham gia dự án chuyển đổi số trong khu vực công; phối hợp với cơ chế “cam kết phục vụ”: học viên sau khi được đào tạo sẽ có cơ hội tuyển dụng ưu tiên vào ngành Nội vụ, góp phần bổ sung nhân lực trẻ, có trình độ cao và tư duy số hóa; Khuyến khích doanh nghiệp công nghệ, tổ chức quốc tế (như UNDP, KOICA, JICA) đồng tài trợ học bổng và chương trình thực tập, nhằm gắn kết khu vực công với khu vực tư trong phát triển nhân lực công nghệ.
Thứ tư, cơ chế khuyến khích và đãi ngộ nhân tài trong nước. Xây dựng chính sách tuyển dụng đặc cách hoặc ưu tiên đối với sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, chuyên gia trong lĩnh vực CNTT, dữ liệu, phân tích chính sách; áp dụng chính sách lương, thưởng, phụ cấp và môi trường làm việc linh hoạt cho nhân lực công nghệ cao nhằm giữ chân và phát huy năng lực của họ trong khu vực công; thiết lập mạng lưới “Công chức trẻ sáng tạo”, nhằm tạo môi trường kết nối, học tập, chia sẻ kinh nghiệm đổi mới hành chính, chuyển đổi số trong toàn ngành Nội vụ.
3.2 Phát triển và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ nước ngoài
Song song với việc phát triển nhân lực trong nước, ngành Nội vụ cần mở rộng hợp tác quốc tế và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ nước ngoài, nhằm tiếp nhận tri thức, công nghệ và mô hình quản trị tiên tiến, qua đó rút ngắn khoảng cách trong quá trình chuyển đổi số và hiện đại hóa nền hành chính.
Thứ nhất, thiết lập cơ chế hợp tác quốc tế về đào tạo và chuyển giao tri thức: Bộ Nội vụ cần phối hợp liên bộ (Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo) trong việc tăng cường ký kết các thỏa thuận hợp tác với các tổ chức quốc tế, viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu về quản trị công và công nghệ số như OECD, UNDP, World Bank, Singapore Civil Service College, hoặc các đại học ở Hàn Quốc, Nhật Bản, EU; Xây dựng chương trình đào tạo liên kết quốc tế về “Quản trị công số”, “Phân tích chính sách bằng dữ liệu” hoặc “Lãnh đạo chuyển đổi số trong khu vực công”, giúp công chức Việt Nam tiếp cận các mô hình hành chính tiên tiến và chuẩn hóa kỹ năng theo tiêu chuẩn quốc tế; đẩy mạnh chương trình trao đổi cán bộ, chuyên gia ngắn hạn giữa Bộ Nội vụ Việt Nam và các cơ quan công vụ nước ngoài, qua đó tạo điều kiện cho đội ngũ công chức được học hỏi thực tế và áp dụng vào bối cảnh Việt Nam.
Thứ hai, thu hút chuyên gia, nhà khoa học và kiều bào Việt Nam ở nước ngoài tham gia chuyển đổi số ngành Nội vụ: Ban hành chính sách thu hút chuyên gia Việt kiều đang làm việc trong lĩnh vực công nghệ, dữ liệu, quản trị nhà nước, thông qua cơ chế mời làm cố vấn chính sách, chuyên gia chuyển giao công nghệ, giảng viên thỉnh giảng cho Học viện Hành chính và Quản trị công; tạo điều kiện để chuyên gia quốc tế và Việt kiều tham gia các dự án tư vấn, thiết kế hệ thống dữ liệu công vụ, xây dựng nền tảng số quản trị CBCCVC; xây dựng và thí điểm “Chương trình chuyên gia công vụ toàn cầu” (Global Public Experts Program) – mô hình hợp tác cho phép chuyên gia nước ngoài hỗ trợ Bộ Nội vụ trong giai đoạn nhất định (6–12 tháng), tương tự như chương trình chuyên gia của UNDP hoặc OECD.
Thứ ba, tạo cơ chế linh hoạt trong tuyển dụng và sử dụng nhân tài quốc tế. Cho phép áp dụng hình thức hợp đồng chuyên gia ngắn hạn, tư vấn theo dự án hoặc làm việc từ xa (remote work) đối với nhân lực công nghệ cao ở nước ngoài, đặc biệt trong các dự án số hóa, phân tích dữ liệu, hoặc quản trị thông tin công; cần đơn giản hóa thủ tục tiếp nhận chuyên gia, bảo đảm điều kiện làm việc, bảo mật thông tin và quyền lợi nghề nghiệp, để tạo môi trường hấp dẫn cho chuyên gia quốc tế hợp tác lâu dài; xây dựng quỹ hỗ trợ hợp tác quốc tế về nhân lực số, dùng cho việc tài trợ các chương trình mời chuyên gia, trao đổi nghiên cứu và học bổng quốc tế.
Thứ tư, hợp tác nghiên cứu và phát triển chính sách với tổ chức quốc tế. Tăng cường tham gia các mạng lưới nghiên cứu quốc tế về quản trị công, dữ liệu công, và cải cách hành chính số để cập nhật xu hướng mới, đồng thời quảng bá hình ảnh ngành Nội vụ ra thế giới; Khuyến khích công chức, viên chức tham gia các dự án nghiên cứu chung với đối tác quốc tế, nhằm nâng cao năng lực tư duy khoa học, phương pháp phân tích chính sách dựa trên bằng chứng và khả năng vận dụng công nghệ trong công vụ.
Bên cạnh đó, phát triển và thu hút nhân lực chất lượng cao chỉ thực sự bền vững khi đi đôi với cơ chế đãi ngộ hợp lý, môi trường làm việc chuyên nghiệp và văn hóa công vụ hiện đại. Do đó, ngành Nội vụ cần tập trung hoàn thiện hệ thống chính sách và môi trường công tác để duy trì, phát huy và giữ chân nhân tài lâu dài.
Một là, hoàn thiện chính sách tiền lương, đãi ngộ và khuyến khích vật chất – tinh thần: Tiếp tục đổi mới chính sách tiền lương gắn với năng lực, vị trí việc làm và hiệu quả công việc, đặc biệt là đối với nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực CNTT, dữ liệu, và chuyển đổi số; thí điểm chính sách phụ cấp chuyên môn đặc thù cho công chức làm việc trong lĩnh vực số hóa dữ liệu, phân tích chính sách, an ninh mạng hoặc nghiên cứu hành chính công ứng dụng công nghệ cao; áp dụng cơ chế thưởng theo kết quả, theo sáng kiến cải tiến hành chính hoặc dự án số hóa thành công, tạo động lực cho công chức đổi mới và cống hiến; song song với khuyến khích vật chất, cần quan tâm chế độ tôn vinh, khen thưởng tinh thần, như trao danh hiệu “Công chức số tiêu biểu”, “Nhà sáng tạo hành chính công”, góp phần lan tỏa động lực cống hiến và niềm tự hào nghề nghiệp.
Hai là, xây dựng môi trường làm việc hiện đại, minh bạch và sáng tạo. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý công việc, triển khai các nền tảng làm việc trực tuyến, hồ sơ điện tử, giúp công chức giảm áp lực hành chính và tập trung vào công việc mang tính sáng tạo, phân tích; xây dựng môi trường làm việc “mở”, khuyến khích chia sẻ tri thức, đổi mới sáng kiến, và làm việc nhóm đa ngành giữa công chức quản lý, kỹ sư dữ liệu, chuyên gia CNTT, và nhà nghiên cứu chính sách; tạo điều kiện cho công chức được làm việc linh hoạt, đào tạo liên tục và tiếp cận công nghệ mới, qua đó hình thành “văn hóa học tập suốt đời” trong cơ quan hành chính; thực hiện minh bạch, công bằng trong đánh giá, bổ nhiệm và quy hoạch cán bộ, bảo đảm nhân tài có năng lực thực sự được trọng dụng, không bị cản trở bởi cơ chế hành chính cứng nhắc.
Ba là, cơ chế phát triển nghề nghiệp và lộ trình thăng tiến rõ ràng cho nhân tài. Thiết lập hệ thống đánh giá năng lực định kỳ dựa trên vị trí việc làm, làm cơ sở cho quy hoạch, đào tạo, đề bạt và bổ nhiệm nhân tài; xây dựng lộ trình thăng tiến minh bạch, gắn kết giữa năng lực thực tiễn và kết quả công việc, giúp công chức có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, tránh tâm lý trì trệ, thụ động; mở rộng cơ hội đi học, tập huấn hoặc công tác ngắn hạn ở nước ngoài, tạo động lực phát triển bản thân và giữ chân nhân sự trẻ, có năng lực, đam mê với công vụ.
Bốn là, tăng cường văn hóa công vụ và niềm tin nghề nghiệp. Xây dựng văn hóa tổ chức dựa trên các giá trị cốt lõi: minh bạch – sáng tạo – hợp tác – phục vụ, tạo môi trường mà nhân tài cảm thấy được tôn trọng và có cơ hội khẳng định bản thân; đẩy mạnh truyền thông nội bộ về tầm quan trọng của chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, qua đó khuyến khích công chức thấy được vai trò, ý nghĩa công việc của mình đối với sự phát triển của ngành và đất nước.
4. Kết luận
Phát triển nhân lực chất lượng cao và thu hút đội ngũ chuyên gia không chỉ là yêu cầu cấp thiết, mà còn là nền tảng chiến lược để ngành Nội vụ thực hiện thành công quá trình chuyển đổi số, hiện đại hóa quản trị công vụ và cải cách hành chính nhà nước. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển nhanh chóng và sâu rộng, Bộ Nội vụ cần vượt lên vai trò truyền thống là cơ quan tổ chức bộ máy, để trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và dẫn dắt quá trình chuyển đổi mô hình quản trị nhà nước hiện đại.
Việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực không chỉ nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ, mà còn hướng tới hình thành đội ngũ công chức “số” – có tư duy chiến lược, năng lực phân tích dữ liệu, khả năng sáng tạo và thích ứng với thay đổi công nghệ. Khi đội ngũ này được bồi dưỡng toàn diện về chuyên môn, kỹ năng số và tư duy đổi mới, ngành Nội vụ sẽ có đủ điều kiện để dẫn dắt tiến trình cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ số, xã hội số và công dân số, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển quốc gia đến năm 2035 và tầm nhìn đến năm 2045.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quyết định số 416/QĐ-BNV ngày 26/4/2025 của Bộ Nội vụ về việc Ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
2. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia: Đột phá chiến lược về nguồn nhân lực nhất là nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh mới, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, 2025;
3. Báo cáo Dự án Điều tra khảo sát cấp bộ DA.03/19, “Điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành Nội vụ”, 2021;
4. Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/03/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông: Quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin;
5. Quyết định số 2823/QĐ-BNV ngày 01/12/2017 của Bộ Nội vụ phê duyệt chiến lược phát triển ngành Nội vụ đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035;
6. Quyết định số 760/QĐ-BNV ngày 25/10/2024 của Bộ Nội vụ Ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược Quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045 của Bộ Nội vụ.