Việt Nam đang trải qua giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ trên nhiều phương diện, trong đó đáng chú ý nhất là quá trình già hóa dân số nhanh chóng và xu thế chuyển đổi số toàn diện. Già hóa dân số là một trong bốn "xu hướng lớn" đặc trưng cho dân số toàn cầu hiện nay, cùng với tăng dân số, đô thị hóa và di cư quốc tế. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số (CĐS) không còn là một lựa chọn mà là một xu thế tất yếu, yêu cầu khách quan, và lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu để phát triển nhanh và bền vững. Nó không chỉ đơn thuần là số hóa dữ liệu, mà còn là quá trình thay đổi toàn diện mô hình hoạt động, phương thức tổ chức sản xuất, quản trị và cung cấp dịch vụ, dựa trên nền tảng công nghệ số. Việc kết hợp hai xu thế này tạo ra cả cơ hội và thách thức đáng kể, đặc biệt đối với lực lượng lao động là người cao tuổi (NCT)[1]. Bài viết này sẽ phân tích bối cảnh, thực trạng lao động cao tuổi ở Việt Nam, các chính sách và thực tiễn triển khai chuyển đổi số toàn diện, những cơ hội và thách thức mà CĐS mang lại cho NCT, cùng với các giải pháp và khuyến nghị để giúp họ thích ứng và tiếp tục đóng góp vào sự phát triển của đất nước.
Đơn vị: Nghìn người
Nguồn: GSO (2020), Dự báo dân số Việt Nam 2019-2069
Bên cạnh đó, các vấn đề về biến đổi khí hậu, nước biển dâng và an ninh phi truyền thống khác diễn biến phức tạp, đặc biệt xu hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh đang diễn ra nhanh chóng ngày càng tác động đến sức khỏe, cuộc sống, đặc biệt là việc làm và sinh kế của NCT, bối cảnh này sẽ tác động mạnh mẽ đến yêu cầu phát triển chính sách xã hội nói chung và trợ giúp xã hội nói riêng cho NCT.
2. Thực trạng lao động cao tuổi đang làm việc
Giai đoạn 2015-2024, số NCT có việc làm tăng từ 4,5 triệu lên 5,3 triệu người, tương ứng tỷ lệ NCT trong tổng số lao động đang làm việc tăng từ 8,5% năm 2015 lên 10,3% năm 2024. Ước tính từ số liệu Điều tra lao động, việc làm năm 2024, trong tổng số 5,3 triệu lao động là NCT có 53,8% là nam và 46,2% là nữ, chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn (khu vực nông thôn chiếm 71,8%, khu vực thành thị chiếm 28,2%).
Hình 2. Số lượng và tỷ lệ người cao tuổi đang làm việc, 2015-2024
Nguồn: Ước tính từ số liệu Điều tra Lao động-việc làm của Cục Thống kê qua các năm.
Việc làm của NCT tại Việt Nam có nhiều đặc điểm dễ bị tổn thương và chịu tác động mạnh từ những hạn chế về thể chất, kỹ năng. Phần lớn người lao động cao tuổi không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, năm 2024 tỷ lệ lao động cao tuổi đang làm việc không có bằng cấp, chứng chỉ chiếm 91,3%.
Hình 3. Cơ cấu lao động cao tuổi đang làm việc theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (%).
Nguồn: Ước tính từ số liệu Điều tra Lao động-việc làm 2024 của Cục Thống kê
Việc làm của NCT chủ yếu tập trung vào các hình thức lao động dễ tổn thương. Năm 2024, ước tính có tới 79,5% NCT làm việc vị thế lao động tự làm hoặc lao động gia đình không được trả lương. Các công việc này thường gắn với những ngành nghề truyền thống như nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hoặc buôn bán nhỏ lẻ, đặc trưng bởi mức thu nhập thấp, tính bấp bênh cao và điều kiện lao động chưa đảm bảo an toàn, sức khỏe.
Bên cạnh đó, NCT gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận cơ hội việc làm mới. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ và yêu cầu ngày càng cao về kỹ năng khiến nhiều NCT gặp khó khăn trong việc cập nhật kiến thức, đặc biệt là các kỹ năng số và kỹ năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại. Trong bối cảnh đó, không ít doanh nghiệp có xu hướng ưu tiên tuyển dụng lao động trẻ, dẫn đến tình trạng NCT bị thu hẹp cơ hội việc làm chính thức trên thị trường lao động.
Áp lực tài chính cũng là yếu tố quan trọng buộc nhiều NCT phải tiếp tục tham gia lao động. Theo số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2025), đến năm 2024, khoảng 2,2 triệu NCT đang hưởng lương hưu hằng tháng với mức bình quân gần 6 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, tỷ lệ NCT được hưởng lương hưu và trợ cấp xã hội còn tương đối thấp, chỉ khoảng 37,4%. Điều này cho thấy một bộ phận lớn NCT vẫn phải đối mặt với rủi ro thu nhập, phụ thuộc vào hỗ trợ của gia đình hoặc tiếp tục lao động để đảm bảo nhu cầu sinh hoạt cơ bản.
Ngoài ra, NCT có nhu cầu ngày càng rõ nét đối với các hình thức việc làm linh hoạt, như làm việc bán thời gian, theo dự án hoặc làm việc từ xa. Những hình thức này không chỉ giúp NCT duy trì thu nhập mà còn cho phép họ chủ động sắp xếp thời gian, phù hợp với tình trạng sức khỏe và khả năng lao động, qua đó góp phần kéo dài thời gian tham gia thị trường lao động một cách bền vững.
3. Chính sách và thực tiễn triển khai chuyển đổi số toàn diện đối với người cao tuổi ở Việt Nam
Chuyển đổi số toàn diện tại Việt Nam được xác lập như một định hướng chiến lược trong phát triển kinh tế – xã hội thông qua Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ). Theo định hướng này, chuyển đổi số không chỉ là quá trình ứng dụng công nghệ thông tin mà còn là sự đổi mới căn bản, toàn diện các phương thức quản lý nhà nước, tổ chức sản xuất – kinh doanh, cung cấp dịch vụ và lối sống của người dân, hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia số ổn định và thịnh vượng vào năm 2030.
Khung triển khai chuyển đổi số toàn diện được cấu trúc dựa trên ba trụ cột chính. Thứ nhất, chính phủ số nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị công thông qua việc phát triển các nền tảng số, hệ thống quản lý văn bản và điều hành trực tuyến, cung cấp dịch vụ công trên môi trường số. Thứ hai, kinh tế số tập trung thúc đẩy tăng trưởng dựa trên công nghiệp công nghệ thông tin, số hóa các ngành, lĩnh vực kinh tế, mở rộng ứng dụng dữ liệu số và quản trị số trong hoạt động sản xuất – kinh doanh. Thứ ba, xã hội số hướng tới nâng cao nhận thức, kiến thức và kỹ năng số cho người dân, xây dựng môi trường số an toàn, văn minh và tạo điều kiện cho mọi nhóm xã hội tham gia, thụ hưởng các thành quả của chuyển đổi số. Trong bối cảnh đó, năm 2025 được xác định là năm bản lề nhằm thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, lấy phát triển kinh tế số làm động lực mới cho tăng trưởng.
Trên nền tảng tầm nhìn chuyển đổi số quốc gia, việc lồng ghép NCT vào tiến trình chuyển đổi số đã được cụ thể hóa thông qua Đề án “Người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm” (Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 20/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ). Đề án thể hiện sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy chính sách, từ tiếp cận NCT chủ yếu dưới góc độ an sinh xã hội sang tiếp cận NCT như một nguồn lực xã hội có khả năng đóng góp tích cực cho phát triển bền vững.
Quan điểm xuyên suốt của Đề án là quán triệt và thể chế hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước về vai trò của NCT trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế bao trùm; đồng thời khẳng định NCT không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là chủ thể tham gia lao động, khởi nghiệp, tạo việc làm và chia sẻ tri thức, kinh nghiệm xã hội. Việc triển khai Đề án được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với tiến trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh hiện nay, bảo đảm tính khả thi, kế thừa các kết quả thực tiễn và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế.
Về mục tiêu cụ thể, trong giai đoạn 2025–2030, Đề án hướng tới việc phổ cập nhận thức về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm cho đa số NCT; đồng thời từng bước nâng cao kỹ năng số cơ bản, hỗ trợ khởi nghiệp và mở rộng cơ hội việc làm thông qua các mô hình kinh tế do NCT tham gia hoặc dẫn dắt. Trong giai đoạn tiếp theo đến năm 2035, các mục tiêu được nâng lên cả về độ bao phủ lẫn chiều sâu, với trọng tâm là gia tăng tỷ lệ NCT thành thạo kỹ năng số, mở rộng quy mô các mô hình khởi nghiệp và tạo việc làm bền vững cho NCT.
|
Hộp: Mục tiêu cụ thể của Đề án “Người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm” đến năm 2030 và 2035:
• Giai đoạn 2025 - 2030:
◦ Phấn đấu 90% cán bộ, hội viên, người cao tuổi được tuyên truyền, nâng cao nhận thức về CĐS, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm.
◦ 50% người cao tuổi thành thạo các kỹ năng số cơ bản, bao gồm: dịch vụ công trực tuyến; mua sắm, thanh toán trực tuyến, tự bảo vệ mình trên không gian mạng và sử dụng các nền tảng số khác.
◦ Ít nhất 1.260 người cao tuổi được hỗ trợ khởi nghiệp, 500 mô hình người cao tuổi khởi nghiệp.
◦ Ít nhất 100.000 người có việc làm thông qua các mô hình người cao tuổi khởi nghiệp.
• Giai đoạn đến 2035:
◦ 100% cán bộ, hội viên, người cao tuổi được tuyên truyền, nâng cao nhận thức về CĐS, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm.
◦ 70% người cao tuổi thành thạo các kỹ năng số cơ bản.
◦ Ít nhất 2.500 người cao tuổi được hỗ trợ khởi nghiệp, 1.000 mô hình người cao tuổi khởi nghiệp.
◦ Ít nhất 200.000 người có việc làm thông qua các mô hình người cao tuổi khởi nghiệp.
Nguồn: Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 20/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm”.
|
Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án đề ra hệ thống nhiệm vụ và giải pháp tương đối toàn diện, bao gồm: nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, hội viên và NCT về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và khởi nghiệp; xây dựng và nhân rộng các mô hình thí điểm phù hợp với đặc điểm của NCT; hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ; đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức xã hội; đồng thời tăng cường công tác theo dõi, giám sát và đánh giá quá trình thực hiện. Cách tiếp cận này góp phần tạo nền tảng để NCT tham gia sâu hơn vào xã hội số và thị trường lao động trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia.
Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện, thị trường lao động Việt Nam đang trải qua sự dịch chuyển mạnh mẽ cả về cơ cấu ngành nghề, hình thức việc làm và yêu cầu kỹ năng. Quá trình số hóa các hoạt động kinh tế – xã hội vừa tạo ra những cơ hội việc làm mới dựa trên nền tảng công nghệ, vừa làm gia tăng nguy cơ phân hóa và loại trừ lao động đối với các nhóm yếu thế, trong đó có người cao tuổi. Do đó, việc lồng ghép NCT vào các chính sách và chương trình chuyển đổi số không chỉ mang ý nghĩa xã hội mà còn là yêu cầu thiết yếu nhằm bảo đảm phát triển thị trường lao động bao trùm và bền vững.
Từ góc độ việc làm, chuyển đổi số mở ra các hình thức lao động linh hoạt phù hợp với đặc điểm của NCT, như làm việc bán thời gian, làm việc từ xa, kinh doanh trực tuyến quy mô nhỏ, hoặc tham gia các mô hình kinh tế dựa trên nền tảng số. Những hình thức này cho phép NCT tiếp tục tham gia hoạt động kinh tế mà không chịu áp lực lớn về cường độ lao động, đồng thời tận dụng được kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn xã hội tích lũy trong suốt vòng đời lao động. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận các cơ hội việc làm này phụ thuộc đáng kể vào mức độ sẵn sàng về kỹ năng số và khả năng thích ứng của NCT.
Xét trên bình diện thị trường lao động, quá trình chuyển đổi số đang làm thay đổi yêu cầu đối với người lao động, trong đó kỹ năng số cơ bản ngày càng trở thành điều kiện cần để duy trì và mở rộng cơ hội việc làm. Đối với NCT, hạn chế về tiếp cận công nghệ, trình độ kỹ năng số và khả năng cập nhật tri thức mới là những rào cản lớn, khiến họ dễ bị tập trung trong khu vực việc làm phi chính thức, thu nhập thấp và thiếu ổn định. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải gắn các mục tiêu chuyển đổi số với chính sách phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là các chương trình đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho NCT.
Trong bối cảnh đó, Đề án “Người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm” đóng vai trò như một cầu nối chính sách giữa chuyển đổi số quốc gia và thị trường lao động. Việc đặt mục tiêu nâng cao kỹ năng số cơ bản cho NCT, hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển các mô hình tạo việc làm cho thấy sự chuyển hướng từ tiếp cận bảo trợ sang tiếp cận phát huy nguồn lực lao động cao tuổi. Các mục tiêu về tỷ lệ NCT thành thạo kỹ năng số, số lượng mô hình khởi nghiệp và việc làm được tạo ra phản ánh nỗ lực cụ thể hóa chuyển đổi số thành kết quả thực chất trên thị trường lao động.
Về kỹ năng số, cách tiếp cận của Đề án nhấn mạnh vai trò của các kỹ năng nền tảng như sử dụng dịch vụ công trực tuyến, mua sắm và thanh toán điện tử, bảo vệ bản thân trên không gian mạng và khai thác các nền tảng số phục vụ lao động, kinh doanh. Đây là những kỹ năng thiết yếu giúp NCT không chỉ tiếp cận việc làm mà còn giảm thiểu rủi ro bị loại trừ khỏi xã hội số. Việc nâng cao kỹ năng số cho NCT, do đó, cần được xem là một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia trong kỷ nguyên số, thay vì chỉ là hoạt động hỗ trợ mang tính phúc lợi.
Bên cạnh đó, Luật Việc làm sửa đổi năm 2025 (Luật số 74/2025/QH15 được thông qua ngày 16/6/205 và chính thức có hiệu lực từ 01/01/2026) quy định NCT được vay vốn tạo việc làm và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Điều 13 của Luật Việc làm 2025 quy định chính sách hỗ trợ việc làm cho người lao động là người cao tuổi như: NCT được vay vốn hỗ trợ tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm; được hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề, hỗ trợ tham gia đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ và khả năng cân đối ngân sách, Nhà nước có chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo lại, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động nhằm thích ứng với già hóa dân số.
4. Cơ hội và thách thức cho người lao động cao tuổi trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện
Chuyển đổi số tạo ra nhiều cơ hội mới cho người lao động cao tuổi, qua đó góp phần duy trì năng lực cạnh tranh của nhóm lao động này và mở rộng khả năng đóng góp vào nền kinh tế.
- Trước hết, chuyển đổi số thúc đẩy sự phát triển của các hình thức việc làm linh hoạt, như làm việc từ xa, làm việc tự do hoặc tham gia các dự án ngắn hạn, phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của NCT. Những hình thức này cho phép người lao động cao tuổi chủ động sắp xếp thời gian làm việc, cân bằng giữa lao động và chăm sóc sức khỏe, đồng thời tiếp tục khai thác kiến thức và kinh nghiệm nghề nghiệp tích lũy thông qua các vai trò như tư vấn, cố vấn hoặc chuyên gia theo dự án. Trong bối cảnh đó, các chính sách khuyến khích phát triển việc làm linh hoạt của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng cơ hội tham gia thị trường lao động cho NCT.
- Thứ hai, chuyển đổi số góp phần mở rộng cơ hội tái đào tạo và thúc đẩy học tập suốt đời đối với người lao động cao tuổi. Sự phát triển của các nền tảng học trực tuyến đã tạo điều kiện cho nhóm lao động này tiếp cận đa dạng các khóa đào tạo về kỹ năng số và kỹ năng nghề với chi phí thấp hoặc miễn phí, qua đó hỗ trợ quá trình cập nhật kiến thức và thích ứng với môi trường làm việc đang thay đổi nhanh chóng. Việc triển khai các chương trình đào tạo nghề và bồi dưỡng năng lực, đặc biệt là đào tạo các kỹ năng số cơ bản như sử dụng máy tính, phần mềm ứng dụng và nền tảng số, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao khả năng tiếp cận việc làm của NCT trong bối cảnh chuyển đổi số. Các chính sách về chuyển đổi số và việc làm hiện hành cũng cho thấy sự thừa nhận ngày càng rõ ràng đối với nhu cầu và tiềm năng tái đào tạo của lực lượng lao động cao tuổi.
- Thứ ba, chuyển đổi số tạo điều kiện để người lao động cao tuổi phát huy kinh nghiệm chuyên sâu và tri thức nghề nghiệp tích lũy trong các lĩnh vực truyền thống. Thông qua các công cụ và nền tảng số, những kiến thức này có thể được chuyển hóa thành các sản phẩm và dịch vụ số hóa, chẳng hạn như nội dung đào tạo trực tuyến, tư vấn chuyên môn, hoặc chia sẻ tri thức thông qua các kênh truyền thông số. Cách tiếp cận này không chỉ giúp kéo dài thời gian tham gia lao động của NCT mà còn góp phần khai thác hiệu quả nguồn vốn tri thức xã hội. Đồng thời, điều này đặt ra yêu cầu thay đổi nhận thức xã hội về vai trò của NCT, theo hướng nhìn nhận họ như một nguồn lực lao động còn nhiều tiềm năng, đặc biệt trong nhóm tuổi 60–75, khi nhiều người vẫn duy trì được sức khỏe, năng lực làm việc và khả năng đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế – xã hội.
Bên cạnh những cơ hội do chuyển đổi số mang lại, NCT cũng phải đối mặt với nhiều thách thức đáng kể, làm gia tăng nguy cơ bị gạt ra bên lề của thị trường lao động và xã hội số nếu không có các can thiệp chính sách phù hợp.
- Thứ nhất, khoảng cách kỹ năng số là thách thức nổi bật và có tính nền tảng đối với NCT trong bối cảnh chuyển đổi số. Phần lớn NCT còn hạn chế trong việc sử dụng các kỹ năng số cơ bản như thao tác với phần mềm văn phòng, công cụ giao tiếp trực tuyến và các ứng dụng chuyên môn. Sự thiếu hụt kỹ năng này làm suy giảm khả năng thích ứng và năng lực cạnh tranh của NCT trên thị trường lao động, trong khi nhu cầu về kỹ năng số đang gia tăng nhanh chóng và trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nhiều vị trí việc làm.
- Thứ hai, sự thay đổi cấu trúc và yêu cầu của thị trường lao động dưới tác động của chuyển đổi số tạo ra áp lực lớn đối với NCT. Quá trình tự động hóa và ứng dụng công nghệ đang làm thu hẹp nhiều vị trí việc làm truyền thống, đồng thời là xu hướng tuyển dụng lao động trẻ, có trình độ công nghệ cao của doanh nghiệp khiến NCT gặp nhiều bất lợi trong cạnh tranh việc làm, buộc họ phải thích nghi nhanh chóng hoặc chuyển hướng sang các hình thức việc làm khác. Trong bối cảnh già hóa dân số, những thay đổi này còn làm gia tăng áp lực điều chỉnh cơ cấu nghề nghiệp và phân bổ gánh nặng kinh tế giữa các thế hệ lao động.
- Thứ ba, định kiến xã hội và rào cản tâm lý tiếp tục là yếu tố cản trở sự tham gia của NCT vào thị trường lao động số. Không ít nhà tuyển dụng vẫn duy trì quan điểm cho rằng NCT khó thích nghi, kém linh hoạt và có hiệu suất thấp hơn trong môi trường làm việc dựa trên công nghệ. Bên cạnh đó, tâm lý tự ti, ngại thay đổi và e ngại công nghệ từ chính bản thân NCT cũng làm hạn chế động lực học tập, tái đào tạo và tham gia vào các cơ hội việc làm mới. Điều này đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách nhìn nhận của xã hội về vai trò và năng lực của NCT trong bối cảnh chuyển đổi số.
- Thứ tư, hệ thống chính sách hỗ trợ việc làm và an sinh xã hội cho NCT, dù đã có nhiều cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tiễn. Các chính sách chung về chuyển đổi số chưa được cụ thể hóa đầy đủ đối với NCT, đặc biệt trong việc hỗ trợ tiếp cận đào tạo kỹ năng số, tìm kiếm việc làm và thích ứng nghề nghiệp sau khi nghỉ hưu. Các chính sách tạo việc làm cho người nghỉ hưu còn thiếu tính toàn diện và chưa theo kịp nhu cầu của thị trường lao động trong nền kinh tế số.
5. Khuyến nghị giải pháp cho lao động là người cao tuổi thích ứng chuyển đổi số
Sự liên kết giữa chuyển đổi số, việc làm, thị trường lao động và kỹ năng số của NCT cho thấy tầm quan trọng của một cách tiếp cận chính sách tích hợp. Chuyển đổi số chỉ thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng bao trùm khi các nhóm lao động lớn tuổi được trang bị đầy đủ năng lực để tham gia và hưởng lợi từ các cơ hội việc làm mới. Do đó, việc triển khai hiệu quả các chính sách và đề án hỗ trợ NCT trong chuyển đổi số sẽ góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển thị trường lao động bền vững, thích ứng với già hóa dân số trong giai đoạn tới. Để tận dụng các cơ hội và vượt qua thách thức, cần có sự phối hợp từ nhiều phía: Chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và bản thân NCT.
- Thứ nhất, nâng cao nhận thức và thay đổi định kiến xã hội. Cần thúc đẩy sự thay đổi nhận thức của xã hội và cộng đồng doanh nghiệp về vai trò của NCT trong thị trường lao động, theo hướng coi NCT là một nguồn lực lao động có thể tiếp tục đóng góp ở những vị trí phù hợp với thể trạng, sức khỏe và kinh nghiệm chuyên môn. Việc tổ chức các chiến dịch truyền thông quy mô lớn nhằm nâng cao hiểu biết về lợi ích và tác động của chuyển đổi số sẽ góp phần cải thiện khả năng tiếp cận các nền tảng số cho người dân nói chung và NCT nói riêng, đặc biệt tại khu vực nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, công tác tuyên truyền cần nhấn mạnh mối quan hệ hài hòa giữa trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm chế độ hưu trí và vai trò chủ động của NCT trong việc tự nguyện tiếp tục tham gia lao động, đóng góp cho xã hội trong bối cảnh già hóa dân số.
- Thứ hai, đào tạo và phổ cập kỹ năng số phù hợp với người cao tuổi. Chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan cần thiết kế và triển khai các chương trình đào tạo kỹ năng số chuyên biệt, dễ tiếp cận và phù hợp với đặc điểm của NCT. Các mô hình đào tạo tại chỗ, kết hợp với việc xây dựng các chương trình và dự án hỗ trợ chuyển đổi nghề hoặc nâng cao năng lực số cho NCT, cần tập trung vào các kỹ năng số cơ bản và thiết yếu như sử dụng điện thoại thông minh, các ứng dụng phổ biến, dịch vụ công trực tuyến, mua sắm và thanh toán điện tử,... Bên cạnh đó, các trung tâm dịch vụ việc làm cần mở rộng vai trò trong việc cung cấp các cơ hội đào tạo và đào tạo lại, giúp NCT nâng cao tay nghề, cập nhật kỹ năng mới và tăng khả năng thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh chuyển đổi số.
- Thứ ba, phát triển các hình thức việc làm linh hoạt và hỗ trợ khởi nghiệp cho người cao tuổi. Triển khai các chính sách khuyến khích NCT tiếp tục tham gia lao động trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với tình trạng sức khỏe, trình độ chuyên môn và kỹ năng, qua đó thúc đẩy mục tiêu già hóa chủ động về mặt kinh tế. Các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình, khởi nghiệp tự tạo việc làm cho NCT cần được thiết kế đồng bộ, đi kèm với các cơ chế tín dụng ưu đãi và hỗ trợ kỹ thuật. Đồng thời, việc thúc đẩy các mô hình việc làm linh hoạt như làm việc bán thời gian hoặc làm việc từ xa sẽ giúp NCT giảm chi phí và rào cản về di chuyển, giao tiếp, từ đó mở rộng khả năng tham gia thị trường lao động. Việc hình thành các sàn giao dịch việc làm chuyên biệt cho NCT, cả trên môi trường trực tuyến và trực tiếp, gắn kết với cơ sở dữ liệu về NCT, sẽ góp phần kết nối hiệu quả cung – cầu lao động trong nhóm lao động này.
- Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện khung chính sách và thể chế. Việc hoàn thiện khung thể chế và pháp lý cho chuyển đổi số cần được đẩy nhanh, đặc biệt trong các lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân, giao dịch điện tử, định danh điện tử, chia sẻ dữ liệu mở và bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng. Song song với đó, cần xây dựng và hoàn thiện các chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tuyển dụng và giữ chân người lao động lớn tuổi, cũng như các cơ chế hỗ trợ tài chính cho NCT khởi nghiệp. Ngoài ra, cần tiếp tục nghiên cứu khả năng điều chỉnh tuổi nghỉ hưu và mở rộng các nhóm ngành, nghề cho phép NCT tiếp tục làm việc trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động.
- Thứ năm, tăng cường hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe. Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội theo hướng thích ứng với quá trình già hóa dân số nhanh, bảo đảm tính linh hoạt, đa dạng, đa tầng và hiện đại, đồng thời mở rộng độ bao phủ đối với toàn bộ lực lượng lao động. Việc củng cố các chính sách chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa và quản lý bệnh tật cho NCT không chỉ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn tạo nền tảng quan trọng để NCT duy trì khả năng tham gia lao động và đóng góp cho xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số.
Chuyển đổi số toàn diện ở Việt Nam là xu thế tất yếu, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với người lao động cao tuổi. Để bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong kỷ nguyên số, Việt Nam đã và đang từng bước xây dựng và hoàn thiện một hệ thống chính sách tổng thể, đồng bộ, với sự tham gia của Chính phủ, doanh nghiệp, xã hội và chính người cao tuổi. Thông qua việc nâng cao nhận thức, đào tạo kỹ năng số, phát triển các hình thức việc làm linh hoạt, hoàn thiện chính sách và tăng cường hệ thống an sinh xã hội,... các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, người sử dụng lao động có thể phát huy tối đa tiềm năng và kinh nghiệm quý báu của người cao tuổi. Nhờ đó, Việt Nam có thể chuyển thách thức của quá trình già hóa dân số thành cơ hội để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tổng cục Thống kê (2021) Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam.
- Cục Thống kê (2025). Thông cáo báo chí Kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024.
- Cục Thống kê (2025). Xu hướng già hóa dân số nhanh ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/xu-huong-gia-hoa-dan-so-nhanh-o-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap/
- Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/06/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
- Chính phủ (2025). Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 20/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm”.
- Quốc hội (2025), Luật Việc làm, số 74/2025/QH15, thông qua ngày 16/6/205 và chính thức có hiệu lực từ 01/01/2026.
- Khoảng trống không có lương hưu, trợ cấp của nhiều người cao tuổi-https://baohiemxahoi.gov.vn/chidaodieuhanh/Pages/thong-tin-bao-chi.aspx