TS. Trịnh Thu Nga - Phó Viện trưởng

Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động

Lời nói đầu

Người cao tuổi (NCT) không chỉ là đối tượng cần chăm sóc mà còn là nguồn lực trí tuệ và kinh nghiệm quý báu cho sự phát triển bền vững của đất nước. Việt Nam đang trong thời kỳ già hóa dân số nhanh, năm 2024 cả nước có khoảng 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên (chiếm gần 14,5% dân số) và con số này sẽ tăng lên gần 18 triệu vào năm 2030; đến năm 2036, Việt Nam sẽ chính thức bước vào thời kỳ “dân số già”[1]. Sự thay đổi nhanh chóng này làm gia tăng gánh nặng chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội, nhưng đồng thời mở ra cơ hội khai thác tiềm năng của “kinh tế bạc” - thị trường sản phẩm và dịch vụ dành cho NCT. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng một hệ sinh thái dịch vụ thân thiện với NCT trở nên cấp bách, đòi hỏi phải gắn với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, nhằm tạo ra các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa, du lịch và giao thông dễ tiếp cận, đồng thời giảm thiểu tác động môi trường. Những mô hình này không chỉ đáp ứng nhu cầu chăm sóc và an sinh mà còn tạo nền tảng cho sự tham gia tích cực của NCT vào khởi nghiệp, sản xuất xanh và phát triển cộng đồng, biến thách thức già hóa thành động lực cho tăng trưởng và đổi mới sáng tạo. Phát triển các mô hình dịch vụ thân thiện với NCT cũng chính là nền tảng để Việt Nam phát triển “kinh tế bạc” một cách bền vững, nhân văn và hiện đại.

1. Thực trạng phát triển dịch vụ thân thiện với người cao tuổi ở Việt Nam

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, một môi trường thân thiện với NCT phải bao quát tám lĩnh vực thiết yếu: không gian và công trình công cộng, giao thông, nhà ở, tham gia xã hội, tôn trọng và hòa nhập xã hội, tham gia dân sự và việc làm, thông tin và truyền thông, và các dịch vụ hỗ trợ cộng đồng và y tế (WHO, 2007). Trong thời gian qua, Việt Nam đã triển khai nhiều mô hình dịch vụ dành cho NCT theo hướng thân thiện, đa dạng hóa và xã hội hóa như: Mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau (CLB LTHGN), dịch vụ tại nhà và hỗ trợ cộng đồng, cơ sở bảo trợ xã hội công và tư nhân, mô hình chăm sóc bán trú và chăm sóc ban ngày (daycare), mô hình chăm sóc tích hợp cho NCT, v.v…

Mô hình Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau - là một sáng kiến cộng đồng do Hội NCT và HelpAge International khởi xướng từ năm 2006. Sau gần 10 năm triển khai thực hiện, mô hình này đã phát triển nhanh phủ khắp 34/34 tỉnh/thành phố trên toàn quốc. Tính đến tháng 4/2025, cả nước có 9.000 CLB với sự tham gia của hơn 330.000 thành viên, trong đó có hơn 231.000 NCT (Hội NCT Việt Nam, 2025). Mô hình CLB LTHGN rất nhân văn, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội, quá trình già hóa dân số của nước ta - Mô hình này tạo ra mạng lưới hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên, tích hợp các hoạt động văn hóa, thể dục, vay vốn nhỏ và chăm sóc tại nhà. Việc triển khai nhân rộng mô hình này là chủ trương đúng, hợp lòng dân, được chính quyền địa phương và người dân đồng tình hưởng ứng (Hội NCT Việt Nam, năm 2025). Mô hình này có chi phí thấp, dựa trên tinh thần tương trợ, nhưng phụ thuộc vào hỗ trợ quốc tế và chưa có cơ chế tài chính bền vững (World Bank, năm 2024).

Dịch vụ tại nhà và hỗ trợ cộng đồng: Do hội phụ nữ và đoàn thanh niên phối hợp, dựa trên tình nguyện viên được đào tạo ngắn hạn chăm sóc NCT tại nhà. Mô hình này phù hợp với văn hóa gia đình nhưng gặp khó khăn do thiếu người chăm sóc khi con cháu đi làm xa và chưa được chuẩn hóa về chất lượng.

Cơ sở bảo trợ xã hội công và tư nhân: Tính đến năm 2023, cả nước có 425 cơ sở trợ giúp xã hội, bao gồm 190 cơ sở công lập và 235 cơ sở ngoài công lập, trong đó chỉ có 46 cơ sở chăm sóc NCT (Bộ LĐTBXH, 2024). Đây vẫn là con số khá khiêm tốn so với tổng số người cần trợ giúp chăm sóc xã hội và chỉ có dưới 10% số cơ sở có các dịch vụ tham vấn, tư vấn, đánh giá sức khỏe tâm thần, trị liệu tâm lý xã hội... Bên cạnh đó, hiện cả nước có trên 40 cơ sở dưỡng lão tư nhân, chăm sóc cho số lượng rất ít NCT với chi phí cao (khoảng 7 - 45 triệu đồng/tháng/người) và chỉ có một số ít cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện cho NCT (Bộ LĐTBXH, 2024). Trong hơn một thập kỷ qua, nhiều viện dưỡng lão tư nhân được thành lập tại các đô thị lớn, cung cấp dịch vụ đa dạng từ chăm sóc dài hạn đến chăm sóc giảm nhẹ và phục hồi chức năng. Tuy nhiên, mô hình này thực sự chỉ phù hợp với những NCT và gia đình có điều kiện, khó mở rộng đến đa số đối tượng NCT trong xã hội.

Mô hình chăm sóc bán trú và chăm sóc ban ngày với dịch vụ chuyên nghiệp: Một số trung tâm tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh tổ chức dịch vụ chăm sóc ban ngày, cung cấp hoạt động nhóm, vật lý trị liệu, dinh dưỡng và theo dõi sức khỏe (Nguyễn Thị Liên, 2025). Trong đó, mô hình chăm sóc bán trú của Trung tâm Nhân Ái tại Hà Nội là ví dụ điển hình - Cơ sở này áp dụng triết lý chăm sóc của Nhật Bản, cung cấp hoạt động nhóm, vật lý trị liệu, bữa ăn dinh dưỡng và quản lý thuốc, giúp cải thiện khả năng nhận thức cho người bệnh Alzheimer và Parkinson (Nhân Ái Daycare, 2025). Mô hình này giúp gia đình có thời gian đi làm và NCT được giao lưu, song hiện mới xuất hiện ở một số đô thị và chưa có khung pháp lý rõ ràng.

Mô hình chăm sóc tích hợp cho NCT (Integrated Care for Older People - ICOPE): là một phương pháp tiếp cận của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tập trung vào việc tối ưu hóa sức khỏe và khả năng hoạt động của NCT bằng cách cung cấp các dịch vụ chăm sóc y tế và xã hội cá nhân hóa tại cộng đồng, tích hợp và can thiệp sớm cho sáu yếu tố chính liên quan đến sự suy giảm năng lực thể chất và tinh thần (WHO, 2024). Mô hình này hướng tới việc kéo dài thời gian "Sống khỏe" của NCT, ngăn ngừa sự phụ thuộc vào sự chăm sóc và hỗ trợ người chăm sóc. Việc thực hiện thí điểm mô hình ICOPE của WHO tại một số địa phương ở Việt Nam (bao gồm Quảng Nam và Bắc Ninh) đã cho thấy kết quả tích cực - hơn 70% NCT cải thiện chức năng vận động, tỉ lệ trầm cảm nhẹ giảm 15% và nhân viên y tế nâng cao kỹ năng liên ngành (Nguyễn Thị Liên, 2025), đó là nhờ cách tiếp cận phối hợp liên ngành và dịch vụ được cá nhân hóa, tập trung vào năng lực nội tại của NCT. Mô hình này hướng tới việc chăm sóc toàn diện, giảm thiểu nguy cơ mất năng lực nội tại như suy giảm thể chất, suy dinh dưỡng, suy giảm nhận thức, và cải thiện khả năng hoạt động của NCT (Vũ Dương Châu, 2025).

Một số vấn đề đặt ra:

- Hệ thống dịch vụ chăm sóc xã hội cho NCT dần được mở rộng, song còn thiếu tính đồng bộ và chưa chú ý đến xu hướng tăng cường cung cấp dịch vụ tại cộng đồng. Hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc xã hội, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe dài hạn cho NCT còn yếu kém, khả năng đáp ứng của hệ thống còn hạn chế, chưa có sự kết nối giữa các hình thức chăm sóc tập trung với các hình thức chăm sóc tại cộng đồng và gia đình để bảo đảm già hóa tại chỗ.

- Các dịch vụ phân bổ không đồng đều: Cơ sở bảo trợ xã hội và Viện dưỡng lão tập trung chủ yếu ở đô thị; NCT ở nông thôn hoặc miền núi khó tiếp cận dịch vụ. Dịch vụ tại nhà phụ thuộc vào mạng lưới tình nguyện viên, vốn mỏng ở vùng nghèo.

- Thiếu dịch vụ chăm sóc tinh thần và hoạt động xã hội: NCT Việt Nam đối mặt với các vấn đề sức khỏe tinh thần và xã hội. Tỷ lệ trầm cảm và sa sút trí tuệ ở NCT cao nhưng ít cơ sở có bộ phận trị liệu tâm lý; chương trình sinh hoạt cộng đồng còn hạn chế. Sự thiếu hụt dịch vụ hỗ trợ tâm lý, hoạt động xã hội và chăm sóc sức khỏe tinh thần khiến NCT dễ bị cô đơn và suy giảm sức khỏe.

Một số nguyên nhân cốt lõi bao gồm:

- Thiếu nguồn nhân lực chuyên môn: Nghề chăm sóc NCT chưa trở thành ngành chuyên nghiệp, thiếu đào tạo chính quy, chưa thu hút lao động trẻ; Số điều dưỡng, nhân viên xã hội và bác sĩ lão khoa còn rất thiếu. Nhiều nhân viên tại cơ sở công lập chưa qua đào tạo chuyên sâu về chăm sóc NCT hoặc chăm sóc tâm thần, dẫn đến chất lượng chăm sóc thấp.

- Hệ thống tài chính chăm sóc dài hạn chưa bền vững: Ngân sách cho chăm sóc dài hạn còn thấp, các mô hình tư nhân mới manh nha, thiếu đầu tư vào hạ tầng thân thiện. Hiện nay nước ta chưa có chính sách bảo hiểm chăm sóc dài hạn là thách thức lớn cho một xã hội đang già hóa nhanh. Chi phí chăm sóc chủ yếu do gia đình chi trả hoặc nguồn từ ngân sách, thiếu quỹ bảo hiểm chăm sóc dài hạn; chi phí dịch vụ tư nhân cao làm gia tăng bất bình đẳng.

- Khoảng cách số hoá và chuyển đổi xanh: Chương trình chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau”, song nhiều NCT chưa có kỹ năng sử dụng công nghệ (MDPI, 2022); hạ tầng chuyển đổi xanh (nhà ở tiết kiệm năng lượng, giao thông bền vững) chưa được tích hợp vào các mô hình chăm sóc.

- Cơ chế phối hợp liên ngành còn lỏng lẻo: Việc sắp xếp lại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2025 và chuyển chức năng chăm sóc NCT sang Bộ Y tế và các bộ ngành khác tạo cơ hội tích hợp nhưng cũng gây xáo trộn; thiếu cơ quan đầu mối về chăm sóc NCT khiến việc thực thi chính sách thiếu đồng bộ.

- Đổi mới chính sách chậm so với tốc độ già hóa: Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, hệ thống an sinh và y tế vẫn cần điều chỉnh lớn để phù hợp.

2. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

2.1. Kinh nghiệm một số quốc gia và sáng kiến toàn cầu về mô hình dịch vụ thân thiện với người cao tuổi

Nhật Bản - Bảo hiểm chăm sóc dài hạn và hệ thống tích hợp cộng đồng: Nhật Bản là một trong những quốc gia già nhất thế giới và đã triển khai hệ thống bảo hiểm chăm sóc dài hạn (Kaigo Hoken) từ năm 2000 (Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản, năm 2000). Ở Nhật, những người từ 40 tuổi trở lên bắt buộc phải đóng phí, còn người trên 65 tuổi được sử dụng dịch vụ mà chỉ đồng chi trả 10-20%. Gói dịch vụ bao gồm chăm sóc tại nhà, hỗ trợ điều dưỡng, phục hồi chức năng, trang thiết bị và chăm sóc ban ngày; người dùng chỉ phải đồng chi trả 10%, phần còn lại do bảo hiểm chi trả. Năm 2008, khoảng 4,6 triệu người Nhật được chứng nhận cần chăm sóc dài hạn, tương đương 13-14% dân số trên 65 tuổi.

Nhằm giúp NCT tiếp tục sống ở cộng đồng, Nhật Bản phát triển mô hình Hệ thống Chăm sóc tích hợp dựa vào cộng đồng (Community‑based Integrated Care System - CBICS) với mục tiêu NCT “già hóa tại chỗ” - NCT được sống tại nơi quen thuộc ngay cả khi cần chăm sóc (MHLW, 2020). Hệ thống tích hợp năm yếu tố: nhà ở, chăm sóc y tế, chăm sóc dài hạn, phòng ngừa và hỗ trợ sinh hoạt. Trong đó, chính quyền địa phương đóng vai trò quản lý, kết nối dịch vụ y tế - xã hội và huy động cộng đồng và chú trọng hỗ trợ người sa sút trí tuệ. Dịch vụ cụ thể gồm chăm sóc tại nhà, điều dưỡng tại nhà, chăm sóc ban ngày, chăm sóc nhóm nhỏ, chăm sóc ngắn ngày, cung cấp thiết bị hỗ trợ và dịch vụ 24 giờ (JICA, năm 2022).

Đức - Bảo hiểm chăm sóc dài hạn bắt buộc và cải cách liên tục (Barmettler, J., Böcking, W. và cộng sự., năm 2020): Đức thiết lập bảo hiểm chăm sóc dài hạn bắt buộc năm 1995 như nhánh thứ năm của hệ thống an sinh xã hội. Chương trình cung cấp trợ cấp tiền mặt, dịch vụ chăm sóc tại nhà và chăm sóc nội trú tùy theo mức độ phụ thuộc. Các cải cách năm 2001, 2008 và 2016 mở rộng dịch vụ, tăng lương cho người chăm sóc và đưa vào phân loại 5 mức độ phụ thuộc, bao gồm cả bệnh nhân sa sút trí tuệ. Đức cũng yêu cầu toàn bộ người dân tham gia bảo hiểm chăm sóc dài hạn (bảo hiểm LTC), với năm mức độ phụ thuộc khác nhau và cho phép người thụ hưởng tự chọn giữa nhận tiền mặt để gia đình tự chăm sóc hoặc nhận dịch vụ chuyên nghiệp. Điều này giúp huy động gia đình và xã hội đồng thời đảm bảo quyền tự chủ của NCT. Tại Đức, gần 80% người thụ hưởng bảo hiểm LTC chọn chăm sóc tại nhà thay vì nội trú.

Hàn Quốc - Bảo hiểm chăm sóc dài hạn quốc gia và mô hình tích hợp chăm sóc cộng đồng cho NCT (Ga Hyeong, 2024): Hàn Quốc thực hiện bảo hiểm chăm sóc dài hạn quốc gia từ năm 2008 do Cơ quan Bảo hiểm Y tế Quốc gia quản lý. Chương trình dành cho người từ 65 tuổi trở lên có hạn chế chức năng hoặc người dưới 65 tuổi mắc bệnh mạn tính; mức phí được đóng riêng (tách khỏi bảo hiểm y tế) và gói dịch vụ được xác định sau khi đánh giá mức độ phụ thuộc và bảo hiểm chi trả 80-100% chi phí. Hệ thống đánh giá mức độ phụ thuộc, xác định gói dịch vụ và giám sát chất lượng; từ năm 2016 đã vận hành hệ thống dữ liệu tích hợp toàn quốc để chuẩn hóa hồ sơ và kết nối dữ liệu y tế với chăm sóc dài hạn. Việc sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ đánh giá nhu cầu và tối ưu hoá phân bổ nguồn lực là bài học quan trọng đối với Việt Nam.

Hàn Quốc thí điểm chăm sóc cộng đồng tích hợp từ năm 2019, kết hợp chăm sóc y tế, phòng bệnh, chăm sóc dài hạn và hỗ trợ đời sống; Luật Hỗ trợ chăm sóc cộng đồng ban hành năm 2024 sẽ triển khai toàn quốc từ năm 2026 .

Thái Lan - Chương trình chăm sóc dài hạn cộng đồng (Nanthavong và cộng sự, 2023): Thái Lan thí điểm chương trình chăm sóc dài hạn dựa vào cộng đồng từ năm 2016 tại 1.000 xã với mục tiêu phục vụ 100.000 đối tượng. Chương trình huy động quỹ y tế địa phương, chính quyền cơ sở, trạm y tế và tình nguyện viên để cung cấp dịch vụ thăm khám tại nhà, chăm sóc ban ngày và phục hồi chức năng. Đến năm 2018, hơn 5.639 trên 7.776 đơn vị chính quyền tham gia chương trình; tuy nhiên, nguồn tài chính hạn chế và thiếu nhân lực chuyên môn khiến việc mở rộng quy mô gặp khó khăn. Kinh nghiệm Thái Lan gợi mở rằng sự phối hợp giữa y tế cơ sở và chính quyền địa phương rất quan trọng khi nguồn lực còn hạn chế.

Singapore - Hệ thống bảo hiểm CareShield Life và không gian tích hợp (ERIA, 2021): Singapore đang đối mặt với sự gia tăng nhanh dân số già; người trên 65 tuổi dự kiến chiếm khoảng 25% dân số vào năm 2030. Nước này đã cải cách hệ thống tài chính với chương trình CareShield Life - bảo hiểm bắt buộc cho công dân từ 30 tuổi cung cấp khoản chi trả hàng tháng bắt đầu từ 600 SGD năm 2020 và tăng 2% mỗi năm khi người tham gia mất khả năng thực hiện ba hoạt động hằng ngày. Ngoài ra còn có quỹ MediSave Care cho phép rút tiết kiệm y tế và quỹ ElderFund hỗ trợ người có hoàn cảnh khó khăn. Singapore phát triển các khu dân cư tích hợp như Kampung Admiralty  - một “làng thẳng đứng” gồm nhà ở, phòng khám, trung tâm chăm sóc ban ngày dành cho NCT, nhà trẻ, khu ẩm thực, trung tâm sinh hoạt, vườn cộng đồng và công viên (Urban Land Institute, 2023). Dự án áp dụng thiết kế không rào cản, thông gió tự nhiên, nhiều không gian nghỉ ngơi và được chứng nhận xanh, tạo điều kiện cho NCT “già hóa tại chỗ”.

Thụy Điển và các nước EU - Hệ thống chăm sóc xã hội toàn dân (OECD & WHO, 2021): Thụy Điển và nhiều nước Bắc Âu xây dựng hệ thống chăm sóc dài hạn phổ quát được tài trợ chủ yếu bằng thuế. Luật Dịch vụ xã hội và Luật Y tế quy định trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc tại nhà, hỗ trợ sinh hoạt và dịch vụ lưu trú. Năm 2018, Thụy Điển chi khoảng 3,4% GDP cho chăm sóc dài hạn, trong đó 93,3% kinh phí từ ngân sách công; khoảng 4,4% dân số trên 65 tuổi sống trong cơ sở chăm sóc và 11,8% nhận chăm sóc tại nhà. Thụy Điển thiết kế hệ thống LTC nhằm giữ người phụ thuộc ở nhà lâu nhất có thể; năm 2018 chỉ 4,4% người trên 65 tuổi ở cơ sở nội trú, còn 11,8 % nhận chăm sóc tại nhà. Người thụ hưởng được lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ và hệ thống Open Comparisons giám sát chất lượng, trong khi các gia đình chăm sóc được hưởng trợ cấp và nghỉ phép. Bài học từ Thụy Điển cho thấy hệ thống tài chính bền vững và quyền lựa chọn giúp nâng cao chất lượng dịch vụ.

Hoa Kỳ, Úc và xu hướng quốc tế (WHO, 2021): Khảo sát ở Hoa Kỳ cho thấy khoảng 90% NCT muốn “già hóa tại chỗ” và ở lại nhà trong 5-10 năm tới. Mô hình Aging in Place kết hợp cải tạo nhà ở, thiết bị trợ giúp, hỗ trợ người chăm sóc và dịch vụ y tế tại nhà để giúp NCT duy trì sự độc lập. Tại Úc cũng đang chuyển từ chăm sóc nội trú sang chăm sóc tại nhà với chương trình Home Care Packages và hệ thống đánh giá nhu cầu Aged Care Assessment. Kinh nghiệm quốc tế nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường dịch vụ tại nhà, áp dụng công nghệ thông tin, bảo vệ quyền lựa chọn và phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp.

Một số sáng kiến điển hình về chăm sóc thân thiện với NCT:

- “Khung 4Ms” (What Matters, Medication, Mentation và Mobility) là một phần của sáng kiến “Hệ thống y tế thân thiện với NCT” do Viện Cải thiện chăm sóc sức khỏe (IHI) phối hợp với Quỹ John A. Hartford khởi xướng từ năm 2017 và được cập nhật vào năm 2022 và được áp dụng rộng rãi nhất tại Hoa Kỳ (IHI, 2022). Khung 4Ms là một bộ các yếu tố bằng chứng để tổ chức chăm sóc: What Matters, Medication, Mentation và Mobility. 4Ms được mô tả là “không phải một chương trình mà là một khuôn khổ”, tổ chức việc chăm sóc NCT dựa trên những vấn đề cốt lõi này và giúp hệ thống y tế tập trung vào sức khỏe và thế mạnh của NCT.

Một số quốc gia đã triển khai khung 4Ms trong chương trình Hệ thống Y tế Thân thiện NCT. Theo tài liệu “Age‑Friendly Health Systems: Evidence‑Based Care for All Older Adults” (2025), các cơ sở y tế được IHI công nhận đang cung cấp dịch vụ 4Ms ở nhiều nước, bao gồm Australia, Brazil, Ireland, Lebanon, Portugal, Qatar, Saudi Arabia, South Korea, United Arab Emirates và Hoa Kỳ (IHI, 2025). Ngoài ra, một số hệ thống y tế ở Canada đã đạt chứng nhận “Age‑Friendly Health System” của IHI; ví dụ, Peterborough Regional Health Centre (Ontario) là một trong những bệnh viện đầu tiên ở Canada được trao danh hiệu này (PRHC, 2025). Nhìn chung, sáng kiến Age‑Friendly Health Systems đã đào tạo học viên từ 53 quốc gia, cho thấy sự quan tâm rộng rãi tới khung 4Ms. Tuy nhiên, theo các nguồn công khai, hiện mới chỉ có các cơ sở được công nhận và triển khai 4Ms ở những nước nêu trên (IHI, 2025).

- Mô hình Time‑bank (ngân hàng thời gian): Time‑bank là một mô hình cộng đồng tự quản nhằm trao đổi thời gian giúp đỡ lẫn nhau. Mô hình này bắt nguồn từ sáng kiến của Teruko Mizushima tại Nhật Bản vào năm 1973 và được Edgar Cahn tiếp tục phát triển, phổ biến rộng rãi ở Hoa Kỳ vào thập niên 1980 (Hungyi Chen và cộng sự, 2022) và hiện được nhiều nước áp dụng để bổ sung cho hệ thống chăm sóc chính thức (Bennett Marcus, 2025). Mô hình này là một hệ thống trao đổi dịch vụ theo thời gian, trong đó các thành viên tích lũy “tín dụng thời gian” bằng cách giúp đỡ người khác và có thể sử dụng lại những giờ đã tích lũy khi họ cần hỗ trợ trong tương lai. Bản chất đây là một mạng lưới tương trợ cộng đồng: người tham gia đóng góp các việc nhỏ như mua sắm, trông trẻ, sửa chữa hoặc đưa đón người già đi khám bệnh; mỗi giờ công được ghi vào “tài khoản thời gian” và có giá trị tương đương một giờ hỗ trợ mà họ sẽ nhận lại (Michaela Haas, 2024).

Các mô hình Time‑bank đã xuất hiện ở nhiều quốc gia. Ví dụ ở Áo, hệ thống Zeitpolster cho phép người dân giúp NCT hoặc người khuyết tật làm việc nhà, mua thực phẩm, chăm vườn…và tích lũy giờ để đổi lại hỗ trợ khi họ già đi (Bennett Marcus, 2025). Ở Thụy Sĩ, chương trình Foundation Time Care tại thành phố St. Gallen chỉ nhận thành viên trên 50 tuổi; các tình nguyện viên hỗ trợ người già mua sắm, đi khám bệnh và bầu bạn, và chính quyền đô thị bảo trợ chương trình với mục tiêu giúp NCT ở lại nhà lâu hơn (Michaela Haas, 2024). Theo bài báo “Banking the Most Valuable Currency: Time”, có hàng nghìn ngân hàng thời gian với hàng trăm nghìn thành viên ở ít nhất 37 quốc gia; các chương trình này xây dựng vốn xã hội và hỗ trợ chăm sóc NCT khi hệ thống chăm sóc chính thức còn nhiều khoảng trống (Michaela Haas, 2024).

2.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Thứ nhất, xây dựng và triển khai bảo hiểm LTC như một trụ cột của hệ thống an sinh xã hội (kinh nghiệm của các nước Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc): cần nghiên cứu ban hành chính sách bảo hiểm chăm sóc dài hạn bắt buộc hoặc tự nguyện, góp phần chia sẻ chi phí giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp, đồng thời thiết kế mức đồng chi trả hợp lý.

Thứ hai, phát triển mô hình chăm sóc tích hợp cộng đồng và phi tập trung (kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc): phát triển mô hình chăm sóc đa tầng tích hợp (tuyến cộng đồng - trung tâm ban ngày - bệnh viện) do chính quyền địa phương điều phối; áp dụng khung 4Ms của hệ thống y tế thân thiện với NCT; gắn hoạt động CLB LTHGN với y tế cơ sở, dịch vụ xã hội và phòng ngừa; huy động mạng lưới tình nguyện viên, người dân và tổ chức phi Chính phủ.

Thứ ba, ưu tiên chăm sóc tại nhà và “già hóa tại chỗ” (kinh nghiệm của Đức, Thuỵ Điển và Hoa Kỳ): tăng cường dịch vụ chăm sóc tại nhà, phục hồi chức năng tại cộng đồng và hỗ trợ người chăm sóc gia đình. Khuyến khích mô hình “già hóa tại chỗ” bằng cách cải tạo nhà ở, lắp đặt thiết bị trợ giúp, hỗ trợ chi phí và đào tạo kỹ năng cho người chăm sóc; phát triển mô hình “Time‑bank” - người khỏe mạnh tích lũy giờ chăm sóc để đổi lấy dịch vụ khi về già.

Thứ tư, bảo đảm quyền lựa chọn và sự tham gia của NCT (kinh nghiệm của Đức và Thụy Điển): Tôn trọng ý kiến NCT trong thiết kế dịch vụ; xây dựng cơ chế linh hoạt cho phép NCT lựa chọn loại hình dịch vụ (tiền mặt, dịch vụ tại nhà, trung tâm ban ngày, viện dưỡng lão), đồng thời xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng và công khai minh bạch giúp người dân dễ lựa chọn.

Thứ năm, kết hợp không gian tích hợp và quy hoạch đô thị thân thiện (kinh nghiệm Singapore): quy hoạch các khu dân cư đa chức năng, tích hợp nhà ở, y tế, thương mại và không gian xanh; áp dụng thiết kế không rào cản, tăng tính bền vững môi trường và thu hút cộng đồng; ưu tiên xây dựng trung tâm dịch vụ chăm sóc ban ngày, nhà dưỡng lão trong khu dân cư gần bến xe buýt và trung tâm y tế.

Thứ sáu, huy động cộng đồng và tình nguyện viên (kinh nghiệm Thái Lan): khuyến khích mô hình CLB LTHTGN phát triển rộng khắp; huy động mạng lưới tình nguyện viên, tổ chức xã hội và trạm y tế xã; kết hợp văn hóa truyền thống với mô hình hiện đại: Vận dụng giá trị “kính lão đắc thọ” và mô hình câu lạc bộ, đồng thời khuyến khích các gia đình tham gia mô hình chăm sóc bán trú, chăm sóc cuối đời và viện dưỡng lão.

Thứ bảy, ứng dụng công nghệ thông tin và đào tạo nhân lực chuyên nghiệp và hỗ trợ thân nhân chăm sóc NCT (kinh nghiệm của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Hoa Kỳ): Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về NCT và hồ sơ sức khỏe điện tử liên thông; áp dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến thông minh để giám sát sức khỏe, cảnh báo nguy cơ té ngã, sa sút trí tuệ; đồng thời bảo đảm an toàn dữ liệu cá nhân. Đầu tư mạnh mẽ cho đào tạo điều dưỡng, bác sĩ lão khoa, nhân viên công tác xã hội; hỗ trợ đào tạo và trợ cấp cho người chăm sóc không chuyên.

Thứ tám, tài chính công bền vững và quyền địa phương (kinh nghiệm của Thụy Điển/EU): cần phân cấp rõ ràng trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý dịch vụ, đồng thời duy trì sự giám sát của Trung ương. Nguồn tài chính nên đa dạng hóa (thuế, bảo hiểm, đóng góp xã hội) và có cơ chế giám sát, kiểm định chất lượng.

3. Đề xuất và giải pháp phát triển mô hình dịch vụ thân thiện với người cao tuổi ở Việt Nam

3.1. Bối cảnh mới và cơ hội - thách thức đối với phát triển mô hình dịch vụ thân thiện với người cao tuổi

Bước vào giai đoạn 2026-2030, Việt Nam vừa đối mặt với áp lực già hóa nhanh vừa triển khai mạnh mẽ chương trình chuyển đổi số[2] và chuyển đổi xanh[3]. Kinh tế số phát triển mở ra cơ hội ứng dụng công nghệ vào chăm sóc NCT: các nền tảng y tế từ xa, thiết bị đeo theo dõi sức khỏe, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ chẩn đoán và robot chăm sóc có thể cải thiện chất lượng dịch vụ và giảm chi phí. Quốc gia đặt mục tiêu phổ cập điện thoại thông minh và kỹ năng số cho toàn dân nhằm đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau (Nguyen, T. X. H, và cộng sự, 2022). Đồng thời, chiến lược chuyển đổi xanh thúc đẩy xây dựng hạ tầng tiết kiệm năng lượng, nhà ở thân thiện với NCT, giao thông công cộng không phát thải và không gian công cộng xanh.

Tuy nhiên, bối cảnh mới cũng đặt ra thách thức: khoảng cách số giữa các thế hệ khiến nhiều NCT chưa tiếp cận được dịch vụ số; chi phí đầu tư vào công nghệ và hạ tầng xanh cao; rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng tới sức khỏe và an sinh của NCT. Hơn nữa, số lượng NCT cần hỗ trợ tinh thần cao do cô đơn, trầm cảm và thiếu dịch vụ tham vấn. Do đó, việc thiết kế mô hình dịch vụ NCT trong bối cảnh mới phải tích hợp cả yếu tố công nghệ, môi trường bền vững và chăm sóc sức khỏe tinh thần. 

Cơ hội lớn là nhu cầu “kinh tế bạc” trong nước sẽ bùng nổ nếu kịp thời đáp ứng. Hiện nay, Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam lọt top 30 kinh tế số hàng đầu thế giới, vì vậy việc số hóa dịch vụ y tế, ngân hàng, thương mại… cần phải tính đến NCT. Đồng thời, dân số già sẽ tạo ra nhu cầu lớn cho dịch vụ công tác xã hội, du lịch dành riêng cho người già, thị trường bất động sản (nhà ở, chung cư “silver”), và nhiều lĩnh vực phụ trợ. Thách thức là phải đảm bảo công nghệ số thân thiện, thiết kế trực quan và có hướng dẫn; đồng thời bảo vệ quyền riêng tư và ngăn chặn lừa đảo cho NCT sử dụng dịch vụ trực tuyến. Trong chuyển đổi xanh, vừa phải khuyến khích NCT tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường (như nông nghiệp hữu cơ), vừa phải đảm bảo cảnh quan, nhà ở, bệnh viện dễ tiếp cận (không bị ảnh hưởng xấu do môi trường).

Quan trọng hơn cả, theo Quyết định số 379/QĐ‑TTg ngày 20/02/2025[4] và Quyết định số 383/QĐ‑TTg ngày 21/02/2025[5], Chính phủ Việt Nam đã xác lập định hướng chiến lược để biến quá trình già hóa dân số thành cơ hội phát triển. Hai quyết định này tạo khung pháp lý và tài chính vững chắc để Việt Nam triển khai các mô hình dịch vụ thân thiện với NCT - từ mở rộng câu lạc bộ liên thế hệ, phát triển dịch vụ tại nhà, trung tâm ban ngày đến ứng dụng công nghệ số và xanh. Đây chính là cơ hội vàng để kết nối nguồn lực công - tư - cộng đồng, thúc đẩy “kinh tế bạc” và xây dựng hệ sinh thái dịch vụ bền vững, đa tầng, đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế và an sinh, đồng thời phát huy vai trò của NCT trong phát triển đất nước.

3.2. Đề xuất mô hình dịch vụ thân thiện với người cao tuổi ở Việt Nam

3.2.1. Phát triển mạng lưới dịch vụ đa tầng và tích hợp

a. Mở rộng và nâng cấp mô hình câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau (CLB LTHGN)

Theo Đề án nhân rộng câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau đến năm 2035[6], Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 có CLB LTHGN hoặc mô hình tương đương tại ít nhất 80 % số xã/phường, trở thành mạng lưới chăm sóc cộng đồng rộng nhất cả nước; đạt khoảng 12.000 CLB LTHGN vào năm 2035. Để đạt mục tiêu này, cần gắn chỉ tiêu phát triển câu lạc bộ với chương trình mục tiêu quốc gia và đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn.

Đa dạng hóa và nâng cấp hoạt động của các CLB LTHGN thông qua bổ sung các nội dung: chuyển đổi số và chuyển đổi xanh (lớp học kỹ năng số, truyền thông chống lừa đảo trực tuyến, tập huấn phân loại rác, trồng cây và xây dựng “vườn trị liệu”,…); chăm sóc tinh thần, tích hợp sàng lọc sa sút trí tuệ và suy dinh dưỡng.

Tạo cơ chế quỹ nội bộ và coi CLB như “hàng hóa xã hội”. Mỗi CLB cần có quỹ tăng thu nhập và quỹ tấm lòng vàng để hỗ trợ thành viên khó khăn. Nhà nước nên công nhận CLB là dịch vụ công cộng, cấp kinh phí hạt giống và khuyến khích doanh nghiệp, đoàn thể tài trợ. Các CLB cũng có thể tham gia thị trường kinh tế bạc bằng cách sản xuất nông sản hữu cơ, sản phẩm thủ công hay dịch vụ du lịch cộng đồng, giúp tăng thu nhập cho thành viên.

b. Nhân rộng mô hình chăm sóc tích hợp cho người cao tuổi (ICOPE)

Áp dụng lộ trình 4 bước của ICOPE 2.0 của Tổ chức Y tế thế giới năm 2024, bao gồm: (1) Đánh giá cơ bản và can thiệp cộng đồng - ngoài sàng lọc sức khỏe còn đánh giá nhu cầu xã hội, người chăm sóc và hỗ trợ ngay tại cộng đồng; (2) Đánh giá chuyên sâu; (3) Lập kế hoạch chăm sóc cá nhân hóa; và (4) Triển khai và giám sát (WHO, 2024). ICOPE 2.0 là phiên bản mới, nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng và người chăm sóc ở tất cả các bước, phù hợp với văn hóa “láng giềng thân thiện” tại Việt Nam.

Tổ chức mạng lưới dịch vụ chăm sóc “một cửa”. Kết nối cơ sở y tế, cơ sở bảo trợ xã hội, gia đình và cộng đồng để cung cấp dịch vụ y tế - xã hội tổng hợp. Sử dụng bộ công cụ đánh giá toàn diện (chức năng, tâm lý, xã hội) và lập kế hoạch chăm sóc đa ngành; kết hợp áp dụng Khung 4Ms của hệ thống y tế thân thiện với NCT.

Tạo nền tảng công nghệ hỗ trợ chăm sóc. Phát triển ứng dụng quản lý kế hoạch chăm sóc, tích hợp hồ sơ sức khỏe điện tử, trí tuệ nhân tạo dự đoán nguy cơ suy giảm năng lực nội tại, và hệ thống định tuyến dịch vụ. Khuyến khích sử dụng bộ cảm biến thông minh trong nhà để theo dõi vận động, dinh dưỡng và gửi cảnh báo sớm.

c. Phát triển dịch vụ chăm sóc tại nhà và hỗ trợ tại gia

Chuyên nghiệp hóa nguồn nhân lực, đào tạo điều dưỡng cộng đồng, nhân viên công tác xã hội và tình nguyện viên theo chuẩn lão khoa, nhấn mạnh kỹ năng phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe tâm thần và hỗ trợ gia đình. Thiết lập hệ thống chứng chỉ hành nghề cho người chăm sóc tại nhà (cả y tá gia đình, người giúp việc có kỹ năng) và khung đánh giá chất lượng dịch vụ.

Khuyến khích dịch vụ chăm sóc tại gia tư nhân. Ban hành quy định cấp phép và ưu đãi thuế cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chăm sóc tại nhà. Cung cấp gói tín dụng lãi suất thấp và hỗ trợ đào tạo để phát triển mô hình “Time‑bank” - người khỏe mạnh tích lũy giờ chăm sóc để đổi lấy dịch vụ khi về già.

Ở một số nước trên thế giới đã sử dụng giải pháp khám chữa bệnh từ xa (Telehealth) phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Đây là giải pháp sử dụng nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông để giúp kết nối các cơ sở y tế, bệnh viện với nhau hoặc cơ sở y tế, bệnh viện với người bệnh để có thể chẩn đoán điều trị, tư vấn giải đáp thắc mắc, xử lý các tình huống khẩn cấp. Phát triển nền tảng khám bệnh từ xa cho NCT tại nhà; thiết bị đeo theo dõi sinh hiệu và chức năng; hệ thống cảnh báo té ngã; và dịch vụ tư vấn tâm lý trực tuyến.

d. Xây dựng mô hình chăm sóc ban ngày và chăm sóc cuối đời (hospice)

Mở rộng trung tâm ban ngày: Mỗi xã/phường nên có một trung tâm chăm sóc ban ngày cung cấp phòng ngừa bệnh mạn tính, phục hồi chức năng, hoạt động văn hóa và hỗ trợ dinh dưỡng. Mô hình này giúp giải tỏa gánh nặng cho gia đình và tạo không gian giao lưu của NCT.

Phát triển dịch vụ chăm sóc cuối đời và chăm sóc giảm nhẹ. Xây dựng hành lang pháp lý, chuẩn đào tạo và cơ chế chi trả cho dịch vụ chăm sóc cuối đời nhân đạo. Khuyến khích doanh nghiệp xã hội và tổ chức tôn giáo hợp tác mở cơ sở Hospice (nơi chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối cùng của cuộc đời) tại các trung tâm y tế.

Sử dụng kết hợp công nghệ và tương tác trực tiếp. Mô hình ban ngày và chăm sóc cuối đời cần tích hợp thiết bị tập luyện thông minh, robot hỗ trợ và chương trình giải trí trực tuyến để duy trì sự gắn kết khi người bệnh không thể di chuyển.

e. Phát triển khu dân cư và đô thị tích hợp đa thế hệ

Thí điểm khu dân cư hỗn hợp: Phát triển các khu “làng đô thị” tích hợp nhà ở, trung tâm y tế, nhà dưỡng lão, nhà trẻ, siêu thị và không gian xanh, nhằm tối ưu hạ tầng và tăng cường kết nối liên thế hệ. Mỗi khu dân cư nên có vườn trị liệu, sân tập thể dục, đường dạo và các tiện ích phù hợp NCT; sử dụng công nghệ AI để quản lý năng lượng, an ninh và phân bổ dịch vụ.

Xây dựng “thành phố thân thiện NCT” và “thôn/xóm chống chịu lão hóa”: Ở đô thị, quy hoạch giao thông công cộng không rào cản, xe buýt điện có bệ nâng; thiết kế đường dạo, bãi đỗ xe ưu tiên. Ở nông thôn, phát triển nhà văn hóa đa năng, sân chơi chung và vườn cộng đồng để NCT tham gia lao động sản xuất xanh.

Kết nối hạ tầng số: Ưu tiên đầu tư mạng băng rộng, trạm sạc xe điện và nền tảng số (đặt lịch khám, mua thuốc, thanh toán trợ cấp) thân thiện với NCT. Các khu dân cư cần có trung tâm hỗ trợ kỹ thuật số miễn phí.

3.2.2. Triển khai thí điểm “Mô hình chăm sóc tích hợp cộng đồng đa tầng” (giai đoạn 2026-2035)

a. Cấu trúc đa tầng - Mô hình ba tầng này cho phép chăm sóc liên tục, giúp người cao tuổi giữ được năng lực tự chủ tối đa, cụ thể:

Tầng 1 (cấp thôn/xóm/tổ dân phố) - CLB LTHGN ở thôn/xóm đóng vai trò hạt nhân, cung cấp các dịch vụ chính sau: tổ chức hoạt động sinh kế, lớp học sức khỏe và kỹ năng số, nhóm hỗ trợ tâm lý; phối hợp với trạm y tế xã và cán bộ dân số; lập quỹ nội bộ để hỗ trợ thành viên khó khăn.

Tầng 2 (cấp xã/phường) - Trung tâm dịch vụ chăm sóc ban ngày ở cấp xã: Mỗi xã/phường có 1 trung tâm ban ngày cung cấp dịch vụ tích hợp y tế sơ cấp (phục hồi chức năng và vận động trị liệu, tư vấn tâm lý), sinh hoạt văn hóa, hoạt động xã hội và trợ giúp gia đình; trang bị Telehealth và kết nối hồ sơ điện tử.

Tầng 3 (cấp tỉnh, khu vực) - Mạng lưới y tế và phục hồi chức năng gồm: các bệnh viện/phòng khám, các trung tâm lão khoa/phục hồi chức năng cấp tỉnh/khu vực; áp dụng mô hình Chăm sóc tích hợp cho NCT của WHO và khung 4Ms của hệ thống y tế thân thiện với NCT; hồ sơ sức khỏe điện tử kết nối với tuyến cơ sở; đào tạo tuyến dưới, giám sát chất lượng và nghiên cứu lão khoa.

b. Nguyên tắc vận hành

Một là, lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Hai là, tích hợp y tế - xã hội - gia đình.

Ba là, ứng dụng công nghệ số và dữ liệu lớn.

Bốn là, thân thiện môi trường và chuyển đổi xanh.

Năm là, bền vững tài chính.

Sáu là, đào tạo và hỗ trợ người chăm sóc.

c. Lộ trình thực hiện

Giai đoạn 2026-2028: Xây dựng đề án thí điểm, lựa chọn 5-7 tỉnh đại diện (miền núi, đồng bằng, đô thị, ven biển); thành lập ban chỉ đạo liên ngành; đầu tư hạ tầng số và đào tạo nhân lực; hoàn thiện bộ công cụ đánh giá và tuyển dụng tình nguyện viên.

Giai đoạn 2029-2032: Triển khai thí điểm và đánh giá định kỳ; điều chỉnh mô hình theo phản hồi của NCT; ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn dịch vụ; thử nghiệm mô hình “time‑bank” và thẻ tích lũy giờ chăm sóc.

Giai đoạn 2033-2035: Mở rộng mô hình ra toàn quốc; tích hợp với chương trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; đẩy mạnh truyền thông; phát triển hệ thống giám sát chất lượng và hạnh phúc NCT bằng trí tuệ nhân tạo.

3.3. Giải pháp phát triển mô hình dịch vụ thân thiện với NCT ở Việt Nam trong bối cảnh mới

3.3.1. Hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế điều phối

Thiết kế chính sách bảo hiểm chăm sóc dài hạn, có thể ở dạng bắt buộc hoặc tự nguyện mở rộng. Đây là bước đi chiến lược, để tăng năng lực tài chính cho hệ thống dịch vụ, tạo thị trường mới cho doanh nghiệp, đồng thời giảm gánh nặng cho gia đình (vốn đang chăm sóc tới 80% NCT). Dựa vào kinh nghiệm của các nước Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, xây dựng chính sách bảo hiểm chăm sóc dài hạn chia sẻ chi phí giữa người dân, doanh nghiệp và Nhà nước; cho phép NCT chọn nhận tiền mặt hoặc dịch vụ; quy định rõ công tác đánh giá và chất lượng.

Ưu đãi đất đai và thuế: Miễn giảm tiền thuê đất, thuế thu nhập, tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp và tổ chức đầu tư vào cơ sở chăm sóc dài hạn, trung tâm ban ngày và mô hình cộng đồng.

Thu hẹp khoảng cách vùng miền và giới: Chính sách cần ưu tiên NCT vùng sâu, dân tộc thiểu số, phụ nữ; phát triển dịch vụ ở nông thôn và miền núi; bảo đảm cơ hội tiếp cận dịch vụ công bằng.

Giám sát bằng dữ liệu: Thiết lập hệ thống theo dõi chất lượng dịch vụ và chỉ số hạnh phúc NCT; dùng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để phân tích nhu cầu, lập dự báo chính sách.

3.3.2. Thiết lập quỹ bảo hiểm chăm sóc dài hạn và cơ chế tài chính bền vững

Xây dựng quỹ bảo hiểm chăm sóc dài hạn; phân định rõ phương thức đóng góp và chi trả; kết nối với quỹ bảo hiểm y tế và xã hội để đồng bộ dữ liệu; khuyến khích hình thức bảo hiểm tự nguyện và phiếu dịch vụ.

Ưu đãi tài chính cho nhà đầu tư; hỗ trợ vốn vay, miễn thuế đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chăm sóc; xây dựng khung giá dịch vụ công - tư để tránh thương mại hóa quá mức.

Đa dạng hóa nguồn vốn; huy động đóng góp cộng đồng, quỹ xã hội hóa, đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực công nghệ chăm sóc và nhà thông minh.

3.3.3. Tăng cường đào tạo nhân lực và phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi

Đa dạng chương trình đào tạo: Mở ngành lão khoa, điều dưỡng và công tác xã hội ở bậc đại học, cao đẳng và trung cấp; lồng ghép nội dung chăm sóc NCT vào đào tạo y khoa; tổ chức khóa ngắn hạn cho tình nguyện viên và người chăm sóc gia đình.

Xây dựng khung nghề nghiệp và chế độ đãi ngộ: Xác định rõ lộ trình nghề nghiệp, hệ số lương, phụ cấp, phúc lợi để thu hút và giữ chân nhân lực.

Hợp tác quốc tế và chuyển giao công nghệ: Tăng cường trao đổi học viên với các nước Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Thụy Điển; tham gia chương trình thực tập sinh, chia sẻ kinh nghiệm đào tạo và chuẩn nghề.

Hỗ trợ người chăm sóc không chuyên: Cung cấp tư vấn tâm lý, hỗ trợ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm y tế cho người chăm sóc gia đình; triển khai chương trình giáo dục cộng đồng về kỹ năng chăm sóc.

3.3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số

Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và hồ sơ sức khỏe điện tử liên thông; kết nối dữ liệu y tế, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm chăm sóc dài hạn; đảm bảo an ninh thông tin.

Phát triển nền tảng chăm sóc số: telehealth, thiết bị đeo và cảm biến thông minh, hệ thống cảnh báo té ngã và sa sút trí tuệ; tích hợp AI và robot hỗ trợ phục hồi chức năng, nhắc uống thuốc, trò chuyện ảo (Ferri Sanz và cộng sự, 2025).

Phổ cập kỹ năng số cho NCT; hỗ trợ thiết bị giá rẻ; thiết kế giao diện ứng dụng thân thiện; hình thành mạng lưới “sinh viên dạy kỹ năng số” trong CLB LTHGN.

3.3.5. Xây dựng môi trường sống xanh, thân thiện và an toàn

Ban hành quy chuẩn thiết kế nhà ở, cơ sở chăm sóc, công viên, giao thông thân thiện NCT (tay vịn, ram dốc, sàn chống trượt, ánh sáng tốt).

Cải tạo nhà ở và tiết kiệm năng lượng; hỗ trợ lắp đặt năng lượng mặt trời, thiết bị trợ lực, cảm biến rơi ngã.

Phát triển giao thông và không gian xanh: xe buýt điện, đường đi bộ, xe đạp; vườn cộng đồng, khu tập thể dục ngoài trời; chương trình “mỗi tỉnh ba mô hình nông nghiệp xanh” do NCT khởi xướng.

Hạ tầng thông minh: xây dựng nhà thông minh với IoT; nâng cấp công viên, bệnh viện, trung tâm văn hóa theo chuẩn tiếp cận; áp dụng thiết kế không rào cản và sử dụng vật liệu tái chế .

3.3.6. Kết nối “kinh tế bạc”, khởi nghiệp xanh và việc làm cho người cao tuổi

Hỗ trợ khởi nghiệp xanh: Cung cấp tín dụng ưu đãi, đào tạo kinh doanh cho NCT làm nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn, sản phẩm thủ công truyền thống; hỗ trợ họ tham gia chuỗi giá trị với doanh nghiệp.

Phát triển dịch vụ kinh tế bạc: Du lịch nghỉ dưỡng, giáo dục tri thức thứ hai, y học cổ truyền, thẩm mỹ dưỡng sinh dành cho NCT; khuyến khích ngân hàng và công ty tài chính phát triển sản phẩm tín dụng phù hợp.

Tận dụng vốn và kinh nghiệm: Thúc đẩy mô hình “cố vấn cao tuổi” cho start‑up, kêu gọi NCT tham gia góp vốn và hướng dẫn thanh niên; triển khai mô hình “sinh viên liên thế hệ” giúp gắn kết thế hệ trẻ với NCT.

3.3.7. Huy động cộng đồng và hợp tác liên ngành

Đa dạng hóa sự tham gia: Gia đình, hội đoàn, doanh nghiệp, trường học, tổ chức tôn giáo, đoàn thanh niên đều tham gia chăm sóc NCT - từ hỗ trợ tại gia, tình nguyện viên tới cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp.

Mô hình “sinh viên liên thế hệ”: Khuyến khích sinh viên tham gia hỗ trợ NCT (hướng dẫn kỹ năng số, dạy thể dục, giúp việc nhà); trao chứng chỉ công tác xã hội.

Ưu đãi cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ: Miễn thuế, ưu đãi đất đai, hỗ trợ tiếp cận thị trường; khuyến khích doanh nghiệp sản xuất thiết bị y tế, thực phẩm chức năng, thiết bị hỗ trợ vận động.

Tăng cường nghiên cứu và giám sát: Các viện nghiên cứu, trường đại học cần đẩy mạnh nghiên cứu về già hóa, chăm sóc dài hạn và “kinh tế bạc”; xây dựng hệ thống đánh giá độc lập và công bố minh bạch.

3.3.8. Tăng cường truyền thông và nâng cao nhận thức xã hội

Chiến dịch truyền thông quốc gia: Đề cao truyền thống “kính lão trọng thọ”, giới thiệu mô hình dịch vụ mới, khuyến khích xã hội đóng góp cho quỹ chăm sóc; truyền thông đa nền tảng (truyền hình, mạng xã hội, podcast).

Giáo dục liên cấp: Phối hợp với trường học, đoàn thể, tổ chức tôn giáo để giáo dục học sinh về trách nhiệm đối với NCT và khuyến khích tư duy già hóa tích cực.

Bảo vệ quyền lợi NCT: Truyền thông về quyền của NCT, cách phòng tránh lừa đảo trực tuyến và tài chính; hỗ trợ pháp lý khi cần thiết.

Việc thực thi đồng bộ các đề xuất và giải pháp trên - với sự hỗ trợ của Đề án chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và việc làm cho NCT (Quyết định  số 379/QĐ‑TTg) và Chiến lược quốc gia về NCT đến 2035, tầm nhìn 2045 (Quyết định số 383/QĐ‑TTg) - sẽ tạo ra mạng lưới dịch vụ thân thiện, đa tầng và bền vững, giúp Việt Nam biến thách thức già hóa dân số thành động lực phát triển, thúc đẩy “kinh tế bạc”, đồng thời bảo đảm NCT được chăm sóc chu đáo và phát huy vai trò tích cực trong gia đình và xã hội./.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Tài liệu tiếng Việt

  1. Hội Người cao tuổi Việt Nam (2025). Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau: Số liệu và kết quả đến tháng 6 năm 2025.
  2. Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2025). Thông cáo báo chí Kết quả Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2024. (nguồn: https://www.nso.gov.vn/).
  3. HelpAge International & Hội NCT Việt Nam (2023). Báo cáo mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau tại Việt Nam.
  4. Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản (2000). Long-Term Care Insurance Act of Japan (Kaigo Hoken): Nhật Bản triển khai bảo hiểm chăm sóc dài hạn”.
  5. Nguyễn Thị Liên (2025). Các mô hình chăm sóc người cao tuổi tại Việt Nam trong bối cảnh mới.
  6. Nhân Ái Daycare (2025). “Mô hình chăm sóc bán trú”.
  7. TCTK và UNFPA (2020), Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2020-2069.
  8. Vũ Dương Châu (2025). Giải pháp tích hợp, đa dạng các hình thức chăm sóc NCT. Ban Chăm sóc NCT Việt Nam.

Tài liệu tiếng Anh

  1. Asian Development Bank (ADB, 2020). “Lessons from thailand’s national community-based long-term care program for older persons”.
  2. Barmettler, J., Böcking, W. và cộng sự. (2020). “Germany’s Long-Term Care Insurance: Development and Reforms”. MDPI Healthcare, 8(4), 351-368.
  3. Bennett Marcus (2025). Ageing society: are time banks the answer?
  4. ERIA (2021). “An Overview of Singapore’s Long-term Care System: Towards a Community Model Care”.
  5. Ferri Sanz và cộng sự. (2025). VALUECARE model for value-based, integrated health and social care services delivery supported by ICT for older adults.
  6. Ga Hyeong (2024). The Korean Long-Term Care System: 2024 Update.
  7. HelpAge USA (2025). New Chapter for Aging in Vietnam: Thousands of Community Clubs to Be Set Up Nationwide.
  8. Hungyi Chen và cộng sự. (2022). Mobile time banking on blockchain system development for community elderly care.
  9. Institute for Healthcare Improvement - (IHI, 2022). Age‑Friendly Health Systems: Guide to Using the 4Ms in the Care of Older Adults in Hospitals and Ambulatory Care Practices.
  10.  Institute for Healthcare Improvement - (IHI, 2025). Age‑Friendly Health Systems: Evidence‑Based Care for All Older Adults.
  11.  JICA (2022). Community-based Integrated Care in Japan —Suggestions for developing countries from cases in Japan”.
  12.  Ministry of Health, Labour and Welfare of Japan (MHLW, 2020). Establishing Community-Based Integrated Care Systems. Tokyo: MHLW.
  13.  Michaela Haas (2024). Banking the Most Valuable Currency: Time.
  14.  MDPI (2022). “Elderly People’s Adaptation to the Evolving Digital Society: A Case Study in Vietnam.
  15.  Nanthavong và cộng sự. (2023). Community-Driven Adult Daycare Centre Service Model in Thailand.
  16.  Nguyen, T. X. H., Tran, T. B. N., Dao, T. B. và cộng sự. (2022). “Elderly People’s Adaptation to the Evolving Digital Society: A Case Study in Vietnam”. Sustainability, 14(15), 8405.
  17.  OECD & World Health Organization (2021). Sweden: Long-Term Care System and Policy Recommendations. Paris: OECD.
  18.  Peterborough Regional Health Center (PRHC, 2025). For Immediate Release: PRHC among first hospitals in Canada to be awarded Age-friendly Health System designation.
  19.  PLOS ONE (2024). “Prevalence and associated factors of depressive symptoms among older people in Vietnam: findings from the Vietnam National Ageing Survey 2022”. PLOS ONE, 19(2).
  20.  Urban Land Institute (2023). Kampung Admiralty  Case study, Singapore.
  21.  World Bank (2024). How Intergenerational Self-Help Clubs Transform Elderly Care in Viet Nam.
  22.  World Health Organization (WHO, 2021). Framework for Countries to Progress towards Integrated People-Centred Long-Term Care. Geneva: WHO.
  23.  World Health Organization (WHO, 2024). Integrated care for older people (ICOPE): guidance for person‑centred assessment and pathways in primary care, second edition”.
  24.  World Health Organization (WHO, 2007). Global Age-friendly Cities: A Guide.
 

[1] Theo dự báo của TCTK và UNFPA (2020), tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên của Việt Nam sẽ đạt 20% vào năm 2036, đưa Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ dân số già.

[2] Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. 

[3] Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050.

[4] Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 20/2/2025 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án "Người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm".

[5] Quyết định số 383/QĐ-TTg ngày 21/2/2025 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045.

[6] Quyết định số 1648/QĐ-TTg  ngày 1/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án nhân rộng câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau đến năm 2035.