Ths. Đỗ Thị Thanh Huyền, Phó Trưởng phòng

Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước và Lao động

          Tóm tắt:

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết để định hình và phát triển hệ thống chăm sóc người cao tuổi gắn với nền kinh tế chăm sóc theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả và bền vững. Việc phân tích thực trạng chính sách chăm sóc người cao tuổi (NCT) và quy chiếu với nền kinh tế chăm sóc đang được định hình tại Việt Nam để có cái nhìn thực tế về những kết quả đạt được, những hạn chế về thể chế, dịch vụ và nguồn nhân lực chăm sóc hiện nay. Trên cơ sở đó, bài viết hướng đến đề xuất định hướng phát triển nền kinh tế chăm sóc gắn với phát triển xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bình đẳng giới và thích ứng với già hóa dân số, trong đó nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong hoàn thiện thể chế, phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc dài hạn và chuẩn hóa nghề chăm sóc NCT.

1. Đặt vấn đề

          Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 khi tỷ lệ người cao tuổi đạt trên 10% dân số và hiện thuộc nhóm quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh trên thế giới. Theo các dự báo dân số, tỷ lệ NCT ở Việt Nam tiếp tục gia tăng mạnh trong những thập niên tới, kéo theo nhiều thách thức về an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe và chăm sóc dài hạn. Trước bối cảnh đó, bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò NCT đã được hiến định[1]; nhiều chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đã được ban hành. Theo đó, hệ thống chính sách từng bước được hoàn thiện theo hướng mở rộng quyền tiếp cận dịch vụ y tế, trợ giúp xã hội, phát huy vai trò và nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCT, góp phần thích ứng với quá trình già hóa dân số trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

          Kinh tế chăm sóc hiện được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như kinh tế học, bình đẳng giới, phát triển con người và an sinh xã hội. Trong bối cảnh già hóa dân số, biến đổi cấu trúc gia đình và nhu cầu chăm sóc NCT ngày càng gia tăng tại Việt Nam, cách tiếp cận theo hướng an sinh xã hội được xem là phù hợp hơn với định hướng phát triển bền vững và lấy con người làm trung tâm. Theo cách tiếp cận này, kinh tế chăm sóc không chỉ là lĩnh vực cung cấp dịch vụ mà còn là một bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, góp phần bảo đảm chất lượng cuộc sống, duy trì nguồn nhân lực và hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương. Hoạt động chăm sóc bao gồm cả chăm sóc có trả công và không trả công, được thực hiện bởi gia đình, Nhà nước, thị trường và cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc ngày càng đa dạng của xã hội.

          Tuy nhiên, tại Việt Nam, công việc chăm sóc nói chung và chăm sóc NCT nói riêng hiện vẫn chủ yếu do phụ nữ đảm nhận và phần lớn chưa được trả lương hoặc chưa được nhìn nhận đầy đủ về giá trị kinh tế – xã hội. Trong khi đó, hệ thống dịch vụ chăm sóc dài hạn, nguồn nhân lực chăm sóc chuyên nghiệp và cơ chế tài chính cho chăm sóc NCT vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình già hóa dân số nhanh. Vì vậy, phát triển kinh tế chăm sóc không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc ngày càng gia tăng mà còn góp phần tạo việc làm, thúc đẩy bình đẳng giới, giảm gánh nặng chăm sóc trong gia đình và tăng cường tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội trong giai đoạn hiện nay.

          Xuất phát từ thực tiễn trên, bài viết tập trung phân tích thực trạng hệ thống chăm sóc NCT ở Việt Nam, nhận diện những khoảng trống chính sách và dịch vụ chăm sóc; làm rõ vai trò của kinh tế chăm sóc trong bối cảnh già hóa dân số, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách nhằm phát triển hệ thống chăm sóc NCT toàn diện, bền vững, góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội và thích ứng với già hóa dân số.

2. Phương pháp luận

          Bài viết được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận biện chứng và lịch sử; sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, thống kê và so sánh. Dữ liệu phân tích được khai thác từ các văn bản của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, báo cáo của Bộ Y tế (Cục Dân số, Cục Bảo trợ xã hội), Bộ Nội vụ, Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA), nghiên cứu của các tác giả, các tổ chức quốc tế (UNFPA, UN Women, ILO) liên quan đến chăm sóc người cao tuổi và kinh tế chăm sóc tại Việt Nam.

3. Thực trạng chính sách chăm sóc người cao tuổi và nền kinh tế chăm sóc tại Việt Nam

          3.1. Về hệ thống chính sách hiện hành

          Quá trình già hóa dân số nhanh đã thúc đẩy sự phát triển tương đối đồng bộ của hệ thống chính sách đối với NCT ở Việt Nam trong hơn một thập niên qua. Việc ban hành Luật Người cao tuổi năm 2009 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng để thể chế hóa quan điểm của Đảng về bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc, phát huy vai trò NCT và thích ứng chủ động với già hóa dân số. Trên cơ sở đó, nhiều chính sách liên quan đến chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và phát huy vai trò NCT tiếp tục được hoàn thiện thông qua các văn bản như Nghị định số 20/2021/NĐ-CP và Nghị định số 76/2024/NĐ-CP sửa đổi và bổ sung Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 và Chương trình chăm sóc sức khỏe NCT giai đoạn 2021–2030. Cùng với đó, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và toàn xã hội về vai trò của NCT đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và tăng cường sự tham gia của NCT vào đời sống xã hội.

          Trong lĩnh vực y tế, chính sách chăm sóc sức khỏe cho NCT đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, thể hiện qua mức độ bao phủ bảo hiểm y tế và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế ngày càng được mở rộng. Hiện nay trên 95% NCT có thẻ bảo hiểm y tế; công tác quản lý sức khỏe, khám sức khỏe định kỳ và điều trị các bệnh mạn tính từng bước được triển khai tại nhiều địa phương (Bộ Y tế, 2025). Hệ thống khoa lão khoa tại các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh tiếp tục được mở rộng, nhiều cơ sở khám chữa bệnh đã bố trí khu vực ưu tiên dành cho NCT. Những kết quả này phản ánh sự quan tâm ngày càng lớn của Nhà nước đối với yêu cầu chăm sóc sức khỏe trong bối cảnh dân số già hóa. Tuy nhiên, hệ thống khám chữa bệnh dành cho NCT còn phát triển chậm so với tốc độ già hóa dân số. Hiện cả nước mới có một bệnh viện chuyên khoa lão khoa tuyến trung ương là Bệnh viện Lão khoa Trung ương, trong khi khoa lão khoa mới được thành lập tại một bộ phận bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và chủ yếu tập trung ở các địa phương có quy mô dân số lớn. Chất lượng và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe giữa các vùng miền vẫn còn chênh lệch đáng kể; dịch vụ phục hồi chức năng, chăm sóc tại nhà và chăm sóc dài hạn còn thiếu hụt, đặc biệt tại khu vực nông thôn và miền núi. Điều này cho thấy chính sách chăm sóc sức khỏe hiện nay vẫn thiên về điều trị bệnh hơn là xây dựng hệ thống chăm sóc tích hợp và liên tục cho NCT.

          Trong lĩnh vực trợ giúp xã hội, phạm vi bao phủ chính sách đối với NCT đã được mở rộng đáng kể. Việc thực hiện Nghị định số 20/2021/NĐ-CP đã góp phần tăng số lượng NCT được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên lên khoảng 3,7 triệu người, trong đó vẫn còn khoảng 1,6 triệu người từ đủ 75 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội. Trên cơ sở đó, nhiều địa phương đã ban hành chính sách hỗ trợ bổ sung về nhà ở, chăm sóc sức khỏe và trợ giúp khẩn cấp đối với NCT có hoàn cảnh khó khăn (Bộ Y tế & UNFPA, 2025). Tuy nhiên, mức trợ cấp hiện hành[2] vẫn thấp hơn đáng kể so với nhu cầu sống tối thiểu của NCT; tỷ lệ NCT không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội còn ở mức cao. Thực trạng này phản ánh khoảng cách giữa mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội toàn dân với khả năng thụ hưởng thực tế của một bộ phận lớn NCT, đặc biệt là nhóm lao động phi chính thức.

          Bên cạnh chính sách chăm sóc, các chính sách bảo vệ và phát huy vai trò NCT cũng đạt nhiều kết quả tích cực. Hàng triệu NCT tiếp tục tham gia lao động sản xuất, kinh doanh, công tác xã hội, hòa giải cơ sở và xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng. Các phong trào “Tuổi cao - Gương sáng”, “Người cao tuổi tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” đã góp phần khẳng định NCT không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là nguồn lực xã hội quan trọng. Tuy nhiên, việc phát huy vai trò NCT vẫn chủ yếu dựa vào các phong trào xã hội, trong khi cơ chế khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực tri thức, kinh nghiệm của NCT trong phát triển kinh tế – xã hội còn chưa rõ nét.

          Nhìn tổng thể, hệ thống chính sách đối với NCT ở Việt Nam đã chuyển từ cách tiếp cận mang tính trợ giúp sang tiếp cận dựa trên quyền và phát triển. Tuy nhiên, tốc độ già hóa dân số đang diễn ra nhanh hơn tốc độ hoàn thiện hệ thống chính sách và dịch vụ chăm sóc. Đây là những vấn đề cơ bản đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển hệ thống chăm sóc dài hạn và xây dựng cơ chế tài chính bền vững nhằm thực hiện mục tiêu thích ứng chủ động với già hóa dân số theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW và Nghị quyết số 42-NQ/TW.

          3.2. Về nhu cầu chăm sóc của người cao tuổi và thực trạng đáp ứng

          Sự gia tăng nhanh chóng về quy mô dân số cao tuổi đang làm thay đổi sâu sắc cơ cấu nhu cầu chăm sóc trong xã hội. Việt Nam có khoảng 16,5 triệu NCT, chiếm gần 16% dân số; trong đó khoảng 2,6 triệu người từ 80 tuổi trở lên. Mặc dù tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đạt khoảng 74,7 tuổi, số năm sống khỏe mạnh chỉ khoảng 65,4 năm (Bộ Y tế & UNFPA, 2025). Điều này đồng nghĩa với việc nhiều NCT phải sống gần một thập niên trong tình trạng bệnh tật, suy giảm chức năng hoặc cần hỗ trợ trong sinh hoạt hằng ngày. Sự chênh lệch giữa tuổi thọ và tuổi thọ khỏe mạnh là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng nhu cầu chăm sóc y tế, chăm sóc xã hội và chăm sóc dài hạn.

          Nhu cầu chăm sóc NCT hiện nay không chỉ gia tăng về số lượng mà còn thay đổi mạnh về nội dung và mức độ chuyên nghiệp. Cùng với quá trình chuyển đổi mô hình bệnh tật, các bệnh mạn tính và bệnh không lây nhiễm ngày càng phổ biến trong nhóm dân số cao tuổi. Tình trạng đa bệnh lý là đặc điểm phổ biến ở người cao tuổi; số lượng bệnh mạn tính gia tăng làm tăng nguy cơ suy giảm khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày và nhu cầu chăm sóc lâu dài (Nguyen et al., 2024; Phi, Giang & Pham, 2023). Do đó, nhu cầu chăm sóc không còn giới hạn ở khám chữa bệnh mà mở rộng sang phục hồi chức năng, chăm sóc tinh thần, hỗ trợ sinh hoạt, chăm sóc bán trú, chăm sóc tại nhà và chăm sóc dài hạn. Đây là xu hướng tất yếu của các xã hội đang bước vào giai đoạn dân số già.

          Mặc dù hệ thống y tế và an sinh xã hội đã có nhiều nỗ lực mở rộng phạm vi bao phủ, nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc vẫn còn nhiều hạn chế. Hiện nay hơn 15,6 triệu NCT có thẻ bảo hiểm y tế, khoảng 80% được lập hồ sơ quản lý sức khỏe ban đầu và gần 70% được khám sức khỏe định kỳ (Bộ Y tế & UNFPA, 2025); tuy nhiên, phần lớn các chính sách và dịch vụ hiện nay mới tập trung vào chăm sóc y tế cơ bản, chăm sóc sức khỏe ban đầu trong khi các dịch vụ chăm sóc dài hạn, chăm sóc tại nhà và hỗ trợ sinh hoạt còn rất hạn chế. Khoảng cách giữa nhu cầu ngày càng đa dạng của NCT với năng lực cung ứng dịch vụ đang trở thành thách thức lớn đối với hệ thống an sinh xã hội.

          Cùng với phát triển kinh tế - xã hội, sự biến đổi của cấu trúc gia đình đang làm suy giảm khả năng chăm sóc truyền thống đối với NCT[3]. Quá trình đô thị hóa, di cư lao động và xu hướng gia đình hạt nhân khiến số lượng NCT sống một mình hoặc chỉ sống với vợ/chồng ngày càng gia tăng. Trong khi đó, phần lớn hoạt động chăm sóc vẫn dựa vào gia đình và chủ yếu do phụ nữ đảm nhận. Nhu cầu chăm sóc ngày càng tăng trong khi khả năng cung cấp chăm sóc của gia đình ngày càng giảm đang trở thành vấn đề nổi bật của quá trình già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay.

          Trên thực tế, vẫn còn tồn tại bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc giữa các nhóm dân cư. Khoảng hai phần ba NCT sinh sống tại khu vực nông thôn, nơi hệ thống dịch vụ y tế, phục hồi chức năng và chăm sóc dài hạn còn hạn chế. Đồng thời, tỷ lệ NCT không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội vẫn ở mức cao, làm gia tăng nguy cơ dễ bị tổn thương trước các cú sốc về sức khỏe và thu nhập. Như vậy, già hóa dân số không chỉ là vấn đề nhân khẩu học mà còn là thách thức phát triển liên quan đến công bằng xã hội và bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ cơ bản của NCT.

          Trong bối cảnh đó, nhu cầu chăm sóc NCT cần được nhìn nhận như một nội dung thiết yếu trong phát triển xã hội và đảm bảo an sinh xã hội. Việc phát triển hệ thống chăm sóc dài hạn, mở rộng các mô hình chăm sóc cộng đồng và tăng cường hỗ trợ đối với nhóm NCT dễ bị tổn thương cần được xem là hướng đi quan trọng nhằm hiện thực hóa mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội bao trùm, toàn diện, thích ứng với già hóa dân số trong giai đoạn tới.

          3.3. Thực trạng phát triển nền kinh tế chăm sóc tại Việt Nam

          Sự gia tăng nhu cầu chăm sóc người cao tuổi đang từng bước làm nổi lên vai trò của nền kinh tế chăm sóc như một lĩnh vực có ý nghĩa kinh tế – xã hội đặc biệt quan trọng của nền kinh tế quốc gia. Tại Việt Nam, kinh tế chăm sóc hiện vẫn chưa được nhìn nhận đầy đủ như một cấu phần của quá trình phát triển kinh tế và hệ thống an sinh xã hội. Các hoạt động chăm sóc, đặc biệt là chăm sóc không được trả lương trong gia đình, phần lớn chưa được lượng hóa đầy đủ trong hệ thống thống kê chung và chưa được phản ánh tương xứng trong hoạch định chính sách phát triển.

          Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế chăm sóc ở Việt Nam là sự phụ thuộc lớn vào lao động chăm sóc không được trả công trong gia đình. Các nghiên cứu gần đây cho thấy gánh nặng công việc chăm sóc không được trả lương vẫn chủ yếu thuộc về phụ nữ; phụ nữ Việt Nam dành trung bình 2,34 giờ mỗi ngày cho các hoạt động chăm sóc không được trả lương, cao gấp 1,78 lần so với nam giới (UN Women & ILSSA, 2024). Sự chênh lệch này phản ánh tình trạng phân công lao động theo giới vẫn còn khá phổ biến trong gia đình và xã hội, khi trách nhiệm chăm sóc trẻ em, người cao tuổi và các thành viên phụ thuộc phần lớn được đặt lên vai phụ nữ. Trong bối cảnh già hóa dân số và nhu cầu chăm sóc ngày càng gia tăng, mô hình chăm sóc dựa chủ yếu vào lao động không được trả công của phụ nữ đang bộc lộ những hạn chế về tính bền vững, đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển các dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp nhằm chia sẻ trách nhiệm chăm sóc giữa gia đình, Nhà nước, thị trường và cộng đồng. Trong bối cảnh già hóa dân số và quy mô gia đình ngày càng thu hẹp, mô hình dựa chủ yếu vào lao động chăm sóc không được trả công đang bộc lộ nhiều hạn chế và khó bảo đảm tính bền vững trong dài hạn.

          Đối với khu vực chăm sóc có trả lương, nguồn nhân lực chăm sóc đang gia tăng nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Khu vực chăm sóc có trả lương hiện mang đặc trưng giới khá rõ nét, phụ nữ chiếm khoảng 72,8% lực lượng lao động trong ngành kinh tế chăm sóc. Tuy nhiên, phần lớn lao động nữ tập trung ở các vị trí nghề giản đơn hoặc chuyên môn kỹ thuật bậc trung, đồng thời có tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội và mức thu nhập thấp hơn lao động nam. Thực trạng này cho thấy mặc dù phụ nữ giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng dịch vụ chăm sóc, những lợi ích kinh tế và an sinh mà họ được thụ hưởng vẫn chưa tương xứng với đóng góp của mình đối với nền kinh tế chăm sóc (UN Women & ILSSA, 2024).

          Sự phát triển chậm và thiếu đồng bộ của hạ tầng dịch vụ chăm sóc đang là một điểm nghẽn quan trọng đối với nền kinh tế chăm sóc ở Việt Nam. Mặc dù nhu cầu chăm sóc NCT gia tăng nhanh cùng với quá trình già hóa dân số, mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp vẫn còn hạn chế về quy mô, chất lượng và khả năng tiếp cận. Các cơ sở chăm sóc NCT chủ yếu tập trung tại các đô thị lớn, trong khi phần lớn NCT ở khu vực nông thôn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp (Cục Dân số, 2025). Bên cạnh đó, nhiều cơ sở còn thiếu nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và nhân lực chuyên môn; các loại hình chăm sóc dài hạn, phục hồi chức năng và chăm sóc dựa vào cộng đồng phát triển chậm. Hiện nay, khoảng 80% NCT có nhu cầu hỗ trợ trong sinh hoạt hằng ngày vẫn được chăm sóc chủ yếu bởi gia đình, trong khi các dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp mới chỉ đáp ứng một phần nhu cầu thực tế (UNFPA, 2022). Thực trạng này cho thấy khoảng cách đáng kể giữa nhu cầu chăm sóc ngày càng gia tăng và năng lực cung ứng dịch vụ hiện nay. Trong bối cảnh quy mô gia đình thu hẹp và tốc độ già hóa dân số ngày càng nhanh, việc phát triển hệ thống chăm sóc dài hạn và mở rộng thị trường dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm giảm gánh nặng cho gia đình và thích ứng với xã hội già hóa. (Cục Dân số, 2025; UNFPA, 2022).

          Một hạn chế mang tính cấu trúc khác là Việt Nam chưa hình thành cơ chế tài chính chuyên biệt cho chăm sóc dài hạn. Hiện nay phần lớn chi phí chăm sóc NCT vẫn do gia đình tự chi trả. Trong khi tuổi thọ tiếp tục tăng, số năm sống cần hỗ trợ chăm sóc cũng có xu hướng kéo dài, làm gia tăng áp lực tài chính đối với hộ gia đình, đặc biệt là nhóm thu nhập thấp. Khoảng cách giữa nhu cầu chăm sóc ngày càng lớn với nguồn lực tài chính còn hạn chế đang đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu xây dựng các cơ chế chia sẻ rủi ro và huy động nguồn lực xã hội cho lĩnh vực chăm sóc.

          Cùng với tiến trình phát triển kinh tế- xã hộikinh tế chăm sóc không chỉ là lĩnh vực hỗ trợ xã hội mà còn là khu vực có tiềm năng tạo việc làm, thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, để chuyển từ mô hình chăm sóc dựa chủ yếu vào gia đình sang mô hình chăm sóc chuyên nghiệp, cần có những thay đổi căn bản về thể chế, nguồn nhân lự, cơ chế tài chính và phát triển thị trường dịch vụ chăm sóc có kết nối. Đây là điều kiện quan trọng để kinh tế chăm sóc thực sự trở thành một trụ cột của hệ thống an sinh xã hội và là động lực cho phát triển bao trùm trong bối cảnh già hóa dân số.

4. Định hướng phát triển chính sách chăm sóc người cao tuổi và nền kinh tế chăm sóc tại Việt Nam

          4.1. Hoàn thiện thể chế và xây dựng hệ thống chăm sóc dài hạn thích ứng với già hóa dân số

          Khoảng cách giữa nhu cầu chăm sóc ngày càng gia tăng và năng lực cung ứng dịch vụ hiện nay đang đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống an sinh xã hội. Trong khi quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh, hệ thống chính sách chăm sóc NCT vẫn chủ yếu tập trung vào trợ giúp xã hội và chăm sóc y tế, chưa hình thành đầy đủ hệ thống chăm sóc dài hạn có tính liên tục và tích hợp. Vì vậy, cần hoàn thiện khung pháp luật về chăm sóc NCT theo hướng bảo đảm quyền được chăm sóc và tiếp cận dịch vụ, đồng thời tăng cường liên kết giữa các lĩnh vực y tế, trợ giúp xã hội, bảo hiểm xã hội và dịch vụ xã hội hướng đến thực hiện hệ thống dịch vụ xã hội liên tục trong chăm sóc NCT.

          Bên cạnh đó, cần nghiên cứu cơ chế tài chính cho chăm sóc dài hạn (có thể tham khảo hình thức bảo hiểm chăm sóc dài hạn) và phát triển mạng lưới dịch vụ chăm sóc đa dạng, chăm sóc đệm/ chăm sóc trung chuyển[4], ưu tiên các mô hình chăm sóc tại nhà, chăm sóc cộng đồng và chăm sóc ban ngày. Quá trình xã hội hóa cần được đẩy mạnh nhằm huy động nguồn lực của doanh nghiệp và cộng đồng tham gia cung ứng dịch vụ, đồng thời bảo đảm quản lý thống nhất về chất lượng và tiêu chuẩn dịch vụ.

          4.2. Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực chăm sóc đáp ứng yêu cầu của xã hội già hóa

          Thiếu hụt nhân lực chăm sóc có chuyên môn đang là một trong những hạn chế lớn của hệ thống chăm sóc nói chung và chăm sóc NCT nói riêng. Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc ngày càng đa dạng và phức tạp, cần từng bước xác lập vị trí nghề nghiệp của lao động chăm sóc NCT thông qua việc xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, chuẩn đào tạo và cơ chế cấp chứng chỉ nghề.

          Cùng với đó, cần đổi mới và chuẩn hóa nội dung đào tạo theo hướng tăng cường kỹ năng chăm sóc dài hạn, phục hồi chức năng, hỗ trợ tâm lý và chăm sóc người mắc bệnh mạn tính. Đồng thời, cần mở rộng các chương trình hỗ trợ kỹ năng chăm sóc cho thành viên gia đình và cộng tác viên tại cộng đồng gắn kết với công tác xã hội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc tại cơ sở, tại cộng đồng.

          4.3. Phát triển nền kinh tế chăm sóc gắn với mục tiêu an sinh xã hội và bình đẳng giới

          Già hóa dân số đang làm gia tăng nhu cầu chăm sóc và tạo điều kiện hình thành nền kinh tế chăm sóc như một lĩnh vực có tiềm năng tạo việc làm và thúc đẩy phát triển bao trùm. Vì vậy, cần giảm dần sự phụ thuộc vào lao động chăm sóc không được trả công trong gia đình thông qua phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp và tăng cường chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước, thị trường, cộng đồng và gia đình.

          Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực chăm sóc NCT, phát triển thị trường dịch vụ chăm sóc theo hướng đa dạng, chất lượng và phù hợp với khả năng chi trả của người dân. Về lâu dài, kinh tế chăm sóc cần được lồng ghép trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, việc làm và an sinh xã hội nhằm thích ứng chủ động và hiệu quả với già hóa dân số và thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội.

          4.4. Thúc đẩy già hóa chủ động và khỏe mạnh và xây dựng môi trường sống thân thiện với người cao tuổi

          Trong bối cảnh tuổi thọ ngày càng tăng, mục tiêu của chính sách không chỉ là kéo dài tuổi thọ mà còn nâng cao số năm sống khỏe mạnh và khả năng sống độc lập của NCT. Do đó, cần phát triển đồng bộ các dịch vụ hướng đến thích ứng chủ động, y tế dự phòng, quản lý bệnh mạn tính, phục hồi chức năng và chăm sóc sức khỏe tinh thần; đồng thời xây dựng cộng đồng và môi trường sống thân thiện, an toàn, thuận tiện cho NCT.

          Đầu tư cho già hóa khỏe mạnh không chỉ góp phần giảm áp lực đối với hệ thống chăm sóc dài hạn mà còn tạo điều kiện để NCT tiếp tục tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội phù hợp với khả năng của mình.

          4.5. Đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong chăm sóc NCT

          Chuyển đổi số là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ chăm sóc trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc ngày càng tăng. Cần thúc đẩy phát triển các mô hình chăm sóc từ xa, hồ sơ sức khỏe điện tử, hệ thống theo dõi sức khỏe tại nhà và các nền tảng kết nối dịch vụ chăm sóc.

          Tăng cường chia sẻ, kết nối dữ liệu giữa các lĩnh vực y tế, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội và dịch vụ xã hội  nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và dự báo nhu cầu chăm sóc. Việc ứng dụng công nghệ không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn tạo động lực phát triển các ngành dịch vụ mới trong nền kinh tế bạc, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững trong bối cảnh già hóa dân số.

 Top of Form

4. Kết luận

          Già hóa dân số đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới chính sách chăm sóc NCT và phát triển nền kinh tế chăm sóc tại Việt Nam. Trong thời gian qua, hệ thống chính sách chăm sóc NCT đã từng bước được hoàn thiện; nhiều mô hình chăm sóc được triển khai và bước đầu đáp ứng nhu cầu của người dân. Tuy nhiên, hệ thống chăm sóc dài hạn, nguồn nhân lực và cơ chế tài chính cho chăm sóc NCT vẫn còn nhiều hạn chế.

          Trong bối cảnh đó, phát triển nền kinh tế chăm sóc không chỉ là yêu cầu trong cân bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội mà còn là động lực thúc đẩy tạo việc làm, bình đẳng giới và phát triển bền vững. Việc xây dựng hệ thống chăm sóc NCT toàn diện, chuyên nghiệp và bao trùm cần được xác định là một ưu tiên chính sách quan trọng trong chiến lược phát triển xã hội của Việt Nam thời gian tới./.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ban Chấp hành Trung ương (2017), Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 về công tác dân số trong tình hình mới. Hà Nội.
  2. Ban Chấp hành Trung ương (2023), Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Hà Nội.
  3. Bộ Y tế & UNFPA (2202), Nghiên cứu đánh giá hệ thống chính sách chăm sóc, bảo vệ và phát huy vai trò người cao tuổi ở Việt Nam. Hà Nội: Bộ Y tế và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc.
  4. Quốc hội (2009), Luật Người cao tuổi.
  5. Chính phủ (2021), Nghị định số 20/2021/NĐ-CP về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
  6. Chính phủ (2024), Nghị định số 76/2024/NĐ-CP của Chính phủ: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2021 về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
  7. Cục Dân số (2025), Báo cáo về già hóa dân số và hệ thống dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam. Hà Nội: Bộ Y tế.
  8. Phi, P. M., Giang, L. T., & Pham, T. T. H. (2023), Unmet needs for care for activities of daily living among older adults with functional disabilities in Vietnam. Frontiers in Public Health, 11, 1216785. https://doi.org/10.3389/fpubh.2023.1216785
  9. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 1579/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030.
  10. Nguyen, T., et al. (2024). Multiple Chronic Conditions and Disability among Vietnamese Older Adults: Results from the Vietnamese Aging and Care Survey (VACS). Journal of Applied Gerontology.
  11. UN Women & ILSSA (2024), Chuyển đổi kinh tế chăm sóc hướng tới bình đẳng giới tại Việt Nam.
  12. ILO & UN Women (2024), Public Investments in the Care Economy.
  13. UN Women (2024), Unpacking the Care Society: Caring for People and the Planet.
  14. United Nations Population Fund (UNFPA). (2022). Ageing in Viet Nam: Opportunities and challenges for policy adaptation. Hanoi: UNFPA Vietnam.
  15. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.
 

[1] Khoản 3, Điều 37, Hiến pháp nêu rõ “NCT được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc“.

[2] Mức chuẩn trợ cấp theo Nghị định 76/2024/NĐ-CP là: 500.000 đồng/tháng/đối tượng

[3] Cục Thống kê. (2025). Thông cáo báo chí kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024. Hà Nội: Bộ Tài chính: Quy mô hộ bình quân giảm từ khoảng 3,8 người/hộ năm 2014 xuống 3,6 người/hộ năm 2019 và còn khoảng 3,5–3,6 người/hộ năm 2024

[4] Là hình thức chăm sóc trung chuyển giữa chăm sóc y tế tích cực với chăm sóc xã hội trước khi đưa NCT về lại gia đình, cộng đồng