Xây dựng và điều chỉnh thiết chế, cơ chế về quan hệ lao động để phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam
Chủ nhiệm:
TS. Nguyễn Duy Phúc
Năm đăng ký:
2016
Năm nghiệm thu:
2017
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
Qua 30 năm Đổi mới, quan hệ lao động (QHLĐ) ở Việt Nam được hình thành, phát triển nhanh chóng và đã trở thành mối quan hệ phổ biến trong xã hội. Số lượng người tham gia vào QHLĐ tăng nhanh, đạt tới 41,4% lao động có việc làm. Lực lượng lao động này trực tiếp tạo ra phần lớn của cải cho xã hội và đóng góp quan trọng vào tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Mặc dù các thiết chế, cơ chế QHLĐ đã sớm được thiết lập và được điều chỉnh nhiều lần nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, trong đó đặc biệt là yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) và hội nhập quốc tế. Điều này thể hiện ở 4 điểm chính sau: (i) Nhiều thiết chế QHLĐ không hoạt động trong thực tiễn, nhất là các thiết chế giải quyết tranh chấp lao động (TCLĐ); (ii) Nhiều cơ chế QHLĐ được hình thành tự phát và hoạt động khá phổ biến trong thực tiễn trong khi cơ chế theo luật định không thể phát huy trong thực tiễn. Nhất là cơ chế giải quyết TCLĐ tập thể. Đình công diễn ra nhiều nhưng tất cả đều không do công đoàn lãnh đạo và bỏ qua hầu hết các thủ tục quy định của pháp luật; (iii) Đối thoại và thương lượng tập thể (TLTT) còn mang tính hình thức hoặc không diễn ra theo cách mà pháp luật quy định; (iv) Nhà nước chưa thực hiện đúng và đủ vai trò của mình đối với QHLĐ trong nền KTTT. Hệ quả là QHLĐ không ổn định, kìm hãm sự phát triển của sản xuất, làm xấu môi trường đầu tư và giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, Việt Nam đã cam kết tiến hành những cải cách cần thiết nhằm tiến tới thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thành viên ILO nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động. Các cam kết quốc tế đã tạo một động lực mạnh mẽ để Việt Nam phải đẩy mạnh tiến trình đổi mới hệ thống QHLĐ.
Cần nhấn mạnh rằng, đổi mới QHLĐ không chỉ để thực hiện các cam kết mà còn xuất phát từ yêu cầu tự thân của nền kinh tế trong nước. Đổi mới QHLĐ là việc làm cần thiết và cũng cấp bách nhằm hoàn thiện thể chế KTTT, khơi thông các nguồn lực phát triển trong nước và hội nhập hiệu quả. Thực hiện các nội dung về QHLĐ nêu trong Tuyên bố năm 1998 thực chất là khơi thông cơ chế thị trường.
Đổi mới hệ thống QHLĐ là việc làm gấp rút, tổng thể và tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn định. Chính vì vậy, đề tài "Xây dựng và điều chỉnh thiết chế, cơ chế về QHLĐ để phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam" là một nghiên cứu cần thiết cả về khoa học và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đưa ra được các đề xuất nhằm xây dựng và điều chỉnh thiết chế, cơ chế về QHLĐ để phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam, nhất là những hiệp định thương mại mà Việt Nam mới ký kết hoặc sẽ ký kết trong tương lai gần.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Luận cứ khoa học của việc xây dựng và điều chỉnh các thiết chế, cơ chế quan hệ lao động để phù hợp với những cam kết quốc tế của Việt Nam.
Chương 2: Phân tích, đánh giá mức độ phù hợp của thiết chế, cơ chế quan hệ lao động hiện tại so với những cam kết quốc tế của Việt Nam.
Chương 3: Xây dựng và điều chỉnh thiết chế, cơ chế về quan hệ lao động phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương 1: Luận cứ khoa học của việc xây dựng và điều chỉnh thiết chế, cơ chế QHLĐ để phù hợp với cam kết quốc tế
Chương 1 xây dựng khung lý luận và tổng quan kinh nghiệm quốc tế phục vụ nghiên cứu. Đề tài xác định các khái niệm cốt lõi: QHLĐ là hệ thống những mối quan hệ giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) tại nơi làm việc hay giữa những tổ chức đại diện (TCĐD) của họ với nhau và với nhà nước; thiết chế QHLĐ là các tổ chức, cơ quan hình thành và vận hành QHLĐ; cơ chế QHLĐ là phương thức tương tác giữa các chủ thể QHLĐ; cam kết quốc tế là các nghĩa vụ mà Việt Nam tự nguyện đảm nhận khi tham gia điều ước quốc tế. Đề tài xác định bốn nguyên tắc xây dựng, điều chỉnh thiết chế, cơ chế QHLĐ: phù hợp với đặc thù thể chế chính trị quốc gia; phát huy vai trò tự chủ của các tổ chức đại diện NLĐ và NSDLĐ; thực hiện đúng nội dung và lộ trình cam kết quốc tế; và đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định xã hội.
Về tiêu chuẩn lao động quốc tế, đề tài phân tích Tuyên bố năm 1998 của ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động, trong đó tập trung vào Công ước số 87 (quyền tự do liên kết) và Công ước số 98 (quyền tổ chức và TLTT) là hai công ước Việt Nam chưa phê chuẩn. Đề tài tổng quan xu hướng đưa nội dung lao động vào các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, chỉ ra rằng các FTA hiện đại ngày càng ràng buộc chặt chẽ hơn với việc thực thi các tiêu chuẩn lao động cơ bản.
Kinh nghiệm quốc tế được tổng hợp từ ba trường hợp điển hình: (i) Các nền kinh tế chuyển đổi cho thấy quá trình đổi mới QHLĐ cần có lộ trình phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể; (ii) Indonesia chứng minh rằng tốc độ cải cách QHLĐ quá nhanh có thể dẫn tới mất kiểm soát và bất ổn xã hội; (iii) Chile thể hiện kinh nghiệm đổi mới QHLĐ thành công trong bối cảnh ký kết FTA với Hoa Kỳ và nhiều nước, với bài học về tầm quan trọng của việc xây dựng thiết chế đại diện NLĐ thực chất trước khi mở rộng quyền.
4.2. Chương 2: Phân tích, đánh giá mức độ phù hợp của thiết chế, cơ chế QHLĐ hiện tại so với cam kết quốc tế
Chương 2 phân tích hiện trạng cam kết quốc tế và đánh giá mức độ phù hợp của hệ thống QHLĐ Việt Nam. Về cam kết quốc tế, Việt Nam đã phê chuẩn 21 Công ước ILO, trong đó có 5/8 Công ước cơ bản, còn thiếu 3 Công ước cơ bản quan trọng về QHLĐ. Hai FTA thế hệ mới có nội dung lao động ràng buộc là TPP (Chương 19 với 15 điều) và EVFTA. TPP yêu cầu Việt Nam đảm bảo quyền tự do liên kết và thừa nhận thực chất quyền TLTT, trong đó bản kế hoạch song phương Việt Nam - Hoa Kỳ quy định cụ thể lộ trình cho phép thành lập tổ chức của NLĐ ngoài hệ thống TLĐLĐVN, sau 5 năm có thể liên kết ở cấp đa doanh nghiệp.
Về hiện trạng các thiết chế QHLĐ: Thiết chế quản lý nhà nước (QLNN) về QHLĐ còn hạn chế về quy mô, nhân lực và tổ chức bộ máy - chức năng bị ghép chung với nhiều nhiệm vụ khác, không có cơ quan QLNN chuyên trách. Thiết chế đại diện NLĐ chỉ có một hệ thống là TLĐLĐVN; nhiều Ban chấp hành CĐCS bị cô lập trước sức ép của NSDLĐ và thiếu sự bảo vệ hiệu quả từ cơ quan nhà nước. Các thiết chế đại diện NSDLĐ (VCCI, VCA, VINASME) mới chỉ hoạt động danh nghĩa trong QHLĐ. Hệ thống giải quyết TCLĐ vừa thừa vừa thiếu: hòa giải viên lao động (HGVLĐ) dàn trải thiếu tổ chức, Hội đồng Trọng tài lao động tồn tại hàng thập kỷ nhưng chưa từng hoạt động; trong khi đó Tổ công tác liên ngành (thiết chế ngoài luật) lại đang đóng vai trò chính trong xử lý đình công.
Đánh giá mức độ phù hợp cho thấy các khoảng cách lớn: Chưa có cơ quan QLNN chuyên trách về QHLĐ từ trung ương đến địa phương theo yêu cầu cam kết; chưa cho phép thành lập tổ chức của NLĐ ngoài TLĐLĐVN; cơ chế TLTT chưa thực chất do tổ chức đại diện NLĐ chưa độc lập; cơ chế giải quyết TCLĐ thiết kế theo kiểu "một đường ống" cứng nhắc, không linh hoạt. Phân tích SWOT cho thấy cơ hội lớn từ quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước (Nghị quyết 06-NQ/TW), song thách thức chủ yếu đến từ năng lực đội ngũ cán bộ QHLĐ còn yếu, thiếu kinh nghiệm quản lý thiết chế mới và nguy cơ mất ổn định nếu đổi mới không theo lộ trình phù hợp.
4.3. Chương 3: Đề xuất xây dựng, điều chỉnh thiết chế, cơ chế QHLĐ phù hợp với cam kết quốc tế
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện dựa trên ba mục tiêu: (1) đảm bảo quyền lao động tương thích với cam kết TPP và EVFTA; (2) tạo lập hệ thống thiết chế, cơ chế QHLĐ đồng bộ, phù hợp với KTTT; (3) thiết lập QHLĐ hài hòa, ổn định nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi. Năm yêu cầu xuyên suốt được xác định là: đảm bảo ổn định chính trị xã hội; đảm bảo tính khả thi (không mở rộng biên chế, chủ yếu sắp xếp lại); có tính hệ thống và chuyên nghiệp; vận hành hiệu quả trong thực tiễn; và phát huy đúng vai trò nhà nước trong KTTT.
Về đề xuất thiết chế QHLĐ mới: Đề tài đề xuất thành lập Cục QHLĐ thuộc Bộ LĐ-TB&XH với cơ cấu gồm văn phòng, phòng Quản lý tổ chức đại diện, phòng Trung gian - Hòa giải - Trọng tài lao động, phòng Chính sách QHLĐ, phòng Quan hệ quốc tế và Trung tâm QHLĐ trực thuộc. Về thiết chế đại diện NLĐ, cho phép thành lập các Tổ chức của NLĐ ngoài TLĐLĐVN ở cấp doanh nghiệp (tối thiểu 20 thành viên đối với doanh nghiệp từ 100 lao động trở lên), sau 5 năm được liên kết ở cấp đa doanh nghiệp; đồng thời TLĐLĐVN cần đổi mới toàn diện để cạnh tranh và giữ vai trò tiên phong. Về thiết chế giải quyết TCLĐ, giải thể Hội đồng Trọng tài lao động, thành lập Cơ quan Trung gian, Hòa giải và Trọng tài lao động (CQTGHG&TTLĐ) tại một số địa phương trọng điểm, với mạng lưới hòa giải viên và trọng tài viên lao động chuyên nghiệp được kết nối toàn quốc.
Về đề xuất cơ chế QHLĐ: Cơ chế QLNN cần chuyển dần từ quản lý nội dung và quy trình hành chính sang bảo vệ quyền của các bên; cơ chế TLTT cần đảm bảo quyền đại diện thực chất cho NLĐ với nhiều hình thức linh hoạt từ cấp doanh nghiệp đến cấp đa doanh nghiệp; cơ chế giải quyết TCLĐ mới thiết kế theo hướng đa lựa chọn thay vì "một đường ống" - hòa giải là tự nguyện, trọng tài chuyên nghiệp và tòa án trở thành kênh giải quyết phổ biến hơn. Lộ trình thực hiện được chia thành 9 bước từ nghiên cứu thí điểm đến triển khai chính thức và rút kinh nghiệm, với giai đoạn chuyển đổi tập trung từ 2018 đến 2021.
Thành viên đề tài:
CN. Nguyễn Trà My, Trung tâm Hỗ trợ phát triển Quan hệ lao động, Thư ký; ThS. Nguyễn Mạnh Cường, Trung tâm Hỗ trợ phát triển Quan hệ lao động, Thành viên chính; TS. Nguyễn Văn Bình, Vụ Pháp chế - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thành viên chính; TS. Đào Quang Vinh Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Thành viên chính; PGS.TS. Hoàng Văn Hoan, Học viện Chính trị Quốc gia Khu vực 1 Thành viên; CN. Phạm Thị Chung, Trung tâm Hỗ trợ phát triển Quan hệ lao động, Thành viên; CN. Hà Kiều Trang, Trung t
Từ khóa:
Quan hệ lao động Thiết chế quan hệ lao động Cơ chế quan hệ lao động Cam kết quốc tế Hiệp định thương mại tự do Tự do liên kết Thương lượng tập thể Việt Nam
|
Tên file |
View |
|
CB2016-02-02.pdf
|
Đăng nhập để xem
|