Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Chủ nhiệm:
ThS. Nguyễn Duy Cường
Năm đăng ký:
2016
Năm nghiệm thu:
2017
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
BHXH là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước, luôn được ghi nhận trong Hiến pháp, trong các Nghị quyết, Văn kiện Đại hội của Đảng và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện nhằm góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp NLĐ ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động, chết... góp phần thực hiện an sinh xã hội. Đặc biệt, với sự ra đời của Luật BHXH năm 2006 và Luật BHXH năm 2014 đánh dấu một bước quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, pháp điển hóa các quy định hiện hành và bổ sung các chính sách BHXH phù hợp với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng đông đảo người lao động, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập quốc tế.
Qua quá trình thực hiện, chính sách bảo hiểm xã hội đã đi vào cuộc sống, phát huy tích cực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động, góp phần thực hiện mục tiêu chính sách an sinh xã hội của nhà nước. Bên cạnh đó, quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội thời gian qua cũng đang đặt ra nhiều thách thức cả về mặt chính sách và tổ chức thực hiện, đặc biệt trong bối cảnh già hóa dân số như phạm vi bao phủ của chính sách, khả năng cân đối tài chính của quỹ bảo hiểm xã hội; phân biệt trong tham gia và thụ hưởng giữa các thành phần kinh; công tác tổ chức thực hiện còn chưa thật chuyên nghiệp, hiện đại, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý BHXH còn chưa đạt được yêu cầu đặt ra;... điều này làm giảm hiệu quả, không đạt được mục tiêu kỳ vọng của chính sách bảo hiểm xã hội.
Tại các văn kiện của Đảng và Nhà nước (Nghị Quyết số 15-NQ/TW ngày 01 tháng 6 năm 2012, Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020; Nghị Quyết số 21-NQ/TW ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012-2020;..) đưa ra mục tiêu hoàn thiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội theo hướng đa dạng, linh hoạt, tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia, đảm bảo công bằng trong tham gia và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội; xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội là thực sự cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội để đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nguyện vọng của người lao động, người sử dụng lao động, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Cung cấp các luận cứ khoa học cho việc đề xuất quan điểm, mục tiêu, định hướng, giải pháp và lộ trình hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Báo cáo được thiết kế thành 3 chương có kết cấu như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực BHXH.
Chương 2: Thực trạng thể chế, thủ tục hành chính và cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận về cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Chương 1 xây dựng khung lý luận toàn diện về dịch vụ công trong lĩnh vực BHXH. Đề tài làm rõ khái niệm dịch vụ công theo các tiếp cận khác nhau (từ góc độ chủ thể quản lý nhà nước, từ thực tiễn quốc tế và Việt Nam), xác định các đặc trưng cơ bản (tính phục vụ lợi ích thiết yếu, trách nhiệm nhà nước, tính công bằng và hiệu quả) và phân loại dịch vụ công (dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự nghiệp công, dịch vụ công ích). Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra khái niệm dịch vụ công trong lĩnh vực BHXH là những hoạt động tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội cho người lao động và người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo mục tiêu công bằng và hiệu quả, không vì mục tiêu lợi nhuận và chịu sự quản lý của Chính phủ.
Đề tài phân tích vai trò, ý nghĩa của dịch vụ công BHXH trên các phương diện: tạo mạng lưới an toàn xã hội cho người tham gia; góp phần tăng hiệu quả sản xuất; tăng sự gắn kết giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước; tăng nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế; và thực hiện tái phân phối thu nhập, bảo đảm công bằng xã hội.
Nội dung dịch vụ công trong lĩnh vực BHXH được chia thành ba nhóm: (i) dịch vụ đóng BHXH (đăng ký, thu đóng, cấp sổ, báo tăng/giảm đối tượng); (ii) dịch vụ hưởng BHXH (giải quyết và chi trả các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp); và (iii) dịch vụ tư vấn, phổ biến chính sách BHXH. Đề tài cũng xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công BHXH gồm: mức độ bao phủ chính sách, tính bền vững tài chính, sự bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng, tính thuận tiện và thời gian thực hiện thủ tục, mức độ đáp ứng nhu cầu đối tượng thụ hưởng và mức độ hài lòng của người lao động, người sử dụng lao động.
Phần kinh nghiệm quốc tế khảo sát bốn mô hình cung ứng hàng hóa - dịch vụ công điển hình: (1) Nhà nước cung ứng tài chính và tổ chức cung ứng; (2) khu vực tư cung ứng tài chính và tổ chức cung ứng; (3) Nhà nước và khu vực tư nhân liên kết cung ứng; và (4) mô hình lấp chỗ trống. Từ phân tích kinh nghiệm quốc tế, đề tài rút ra bài học cho Việt Nam: lựa chọn mô hình theo nguyên tắc hoàn cảnh nào, mô hình đó; do tính chất đặc thù, BHXH cần nhà nước trực tiếp cung cấp hoặc ủy quyền; pháp luật cần tạo cơ chế dễ tiếp cận, có chính sách ưu tiên với đối tượng khó khăn; và cần thực hiện cung ứng ở nhiều cấp độ phù hợp theo từng mảng dịch vụ.
4.2. Chương 2: Thực trạng thể chế, thủ tục hành chính và cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại Việt Nam
Chương 2 phân tích toàn diện thực trạng thể chế chính sách BHXH qua hai giai đoạn: trước và sau năm 1995. Trước năm 1995, BHXH gắn với cơ chế bao cấp với sự quản lý phân tán giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (quản lý chế độ dài hạn: hưu trí, tử tuất) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (quản lý chế độ ngắn hạn: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động). Từ năm 1995, hệ thống BHXH bước vào giai đoạn đổi mới căn bản với sự thành lập BHXH Việt Nam, ban hành Luật BHXH năm 2006 và năm 2014, từng bước mở rộng đối tượng và chế độ theo hướng đa dạng, linh hoạt, phù hợp kinh tế thị trường. Tuy nhiên, thể chế chính sách BHXH còn bộc lộ hạn chế về độ bao phủ thấp (chỉ đạt 28% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH bắt buộc vào năm 2016), nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật BHXH 2014 chưa được ban hành đầy đủ.
Về thực trạng cung cấp dịch vụ đóng BHXH, số đơn vị và người tham gia tăng liên tục, từ 145.236 đơn vị với 7,418 triệu người năm 2007 lên 306.884 đơn vị với 12,862 triệu người năm 2016. Tổng thu BHXH tăng 7,3 lần trong giai đoạn 2007-2016, đạt 173.349 tỷ đồng năm 2016. Công tác quản lý đối tượng và thu BHXH từng bước được hiện đại hóa, chuyển từ thủ công sang ứng dụng công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Tuy nhiên, tình trạng chậm đóng, nợ đóng BHXH vẫn diễn ra phổ biến (nợ bắt buộc đến cuối năm 2016 là 6,55 nghìn tỷ đồng, bằng 3,64% tổng phải thu), tập trung ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh (8,66%) và doanh nghiệp nhà nước (5,5%).
Về dịch vụ hưởng BHXH, số người được giải quyết hưởng các chế độ hàng tháng (mới) tăng từ 106.242 người năm 2007 lên 148.359 người năm 2016. Số người hưởng một lần đạt 808.506 người năm 2016, tăng 4 lần so với 2007; 8.337.280 lượt người hưởng ốm đau, thai sản, dưỡng sức, tăng 3,5 lần. Tổng chi từ quỹ BHXH bắt buộc ước đạt 116.821 tỷ đồng năm 2016, tăng hơn 8 lần so với 2007. Công tác chi trả được đa dạng hóa (qua đại diện chi trả xã, hệ thống Bưu điện với 14.426 điểm phủ 63 tỉnh thành, qua tài khoản ATM), tuy nhiên tỷ lệ chi trả ATM còn thấp (khoảng 5%) và chưa thực hiện được giao dịch điện tử trong giải quyết chế độ BHXH.
Về dịch vụ tư vấn, phổ biến và giáo dục chính sách, công tác tuyên truyền được triển khai đa dạng qua hội nghị, hội thảo, báo đài, mạng xã hội và cổng thông tin điện tử. Riêng năm 2016, BHXH Việt Nam tổ chức 2.950 hội nghị/hội thi/đối thoại, đăng tải gần 3.000 tin bài, phối hợp với 12 bộ ngành, 40 cơ quan báo chí và phát hành 21,6 triệu bản ấn phẩm tuyên truyền. Tuy nhiên, tuyên truyền trực tiếp đến từng đối tượng còn hạn chế, lực lượng tuyên truyền viên còn mỏng, chưa hình thành được hệ thống tư vấn chuyên nghiệp qua tổng đài điện thoại, và việc giải đáp trên cổng thông tin điện tử chưa phát huy hiệu quả.
4.3. Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Chương 3 phân tích bối cảnh tác động đến hệ thống BHXH giai đoạn tới, bao gồm: xu hướng già hóa dân số nhanh (Việt Nam chỉ mất 17-20 năm chuyển từ giai đoạn già hóa sang dân số già, ngắn hơn nhiều quốc gia); tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đến cơ cấu lao động và quản lý BHXH; áp lực từ quá trình hội nhập quốc tế và di chuyển lao động. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất ba nhóm giải pháp chính.
Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế bao gồm: ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật BHXH năm 2014 và Luật An toàn, vệ sinh lao động; mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc (bổ sung chủ hộ kinh doanh cá thể); điều chỉnh quy định hưởng lương hưu theo hướng rút ngắn thời gian đóng tối thiểu xuống 10 năm; nghiên cứu bổ sung các quyền lợi ngắn hạn trong BHXH tự nguyện để tăng tính hấp dẫn; sửa đổi cơ chế tài chính đối với cơ quan BHXH theo hướng giao quyền tự chủ về biên chế và trả lương; ban hành hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công BHXH.
Nhóm giải pháp cải cách thủ tục hành chính tập trung vào: xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về đối tượng tham gia và thụ hưởng BHXH liên thông toàn quốc, tiến tới thay thế sổ BHXH bằng thẻ BHXH; rà soát, đơn giản hóa hồ sơ và quy trình nghiệp vụ; thực hiện kết nối liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia (dân cư, đăng ký doanh nghiệp, tài chính, y tế, tư pháp); xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp theo hướng phục vụ; và thiết lập hệ thống tiếp nhận phản hồi về mức độ hài lòng của người lao động.
Nhóm giải pháp đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công đề xuất: đối với dịch vụ thu - nghiên cứu chuyển nhiệm vụ thu BHXH sang cơ quan thuế để khắc phục tình trạng trốn đóng, chậm đóng và giảm chi phí quản lý; điện tử hóa thu BHXH tự nguyện qua ngân hàng, điện thoại di động; đối với dịch vụ hưởng - thực hiện giao dịch điện tử trong giải quyết chế độ BHXH trên cơ sở liên thông cơ sở dữ liệu; đa dạng hóa và tăng tỷ lệ chi trả điện tử, áp dụng thanh toán điện tử cho các chế độ ngắn hạn; đối với dịch vụ tuyên truyền và tư vấn - thiết lập hệ thống thông tin điện tử tiếp nhận phản ánh kiến nghị; tăng cường tuyên truyền trực tiếp; và hình thành hệ thống tư vấn chuyên nghiệp qua tổng đài điện thoại.
Đề tài đề xuất lộ trình thực hiện cụ thể theo hai giai đoạn: giai đoạn 2017-2020 (hoàn thiện văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật BHXH; vận hành cơ sở dữ liệu tập trung; cấp thẻ BHXH; triển khai thu BHXH điện tử; cung cấp hầu hết dịch vụ công trực tuyến mức độ 3-4; đạt mục tiêu 50% lực lượng lao động tham gia BHXH) và giai đoạn 2020-2025 (chuyển thu BHXH sang cơ quan thuế; cung cấp trên 95% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3-4; 100% đơn vị doanh nghiệp nộp BHXH bằng giao dịch điện tử; hình thành và vận hành hệ thống tư vấn qua tổng đài chuyên nghiệp).
Thành viên đề tài:
ThS. Đặng Minh Thư, Vụ Bảo hiểm xã hội, Bộ LĐ-TB&XH, Thư ký; ThS. Nguyễn Hữu Thọ, Vụ Bảo hiểm xã hội, Bộ LĐ-TB&XH, Thành viên chính; ThS. Nguyễn Thị Hà, Vụ Bảo hiểm xã hội, Bộ LĐ-TB&XH, Thành viên; TS. Bùi Sỹ Tuấn, Viện Khoa học Lao động xã hội, Thành viên; ThS. Kiều Thị Liên, Vụ Bảo hiểm xã hội, Bộ LĐ-TB&XH, Thành viên; ThS. Vũ Hải Nam, Vụ Bảo hiểm xã hội, Bộ LĐ-TB&XH, Thành viên; ThS. Nguyễn Thị Hồng Tuyết, Vụ Bảo hiểm xã hội, Bộ LĐ-TB&XH, Thành viên chính; Đỗ Ngọc Thọ, Ban Thực hiện Chính sác
Từ khóa:
Bảo hiểm xã hội Dịch vụ công Cải cách hành chính Thể chế Thủ tục hành chính An sinh xã hội
|
Tên file |
View |
|
CT2016-02-06.pdf
|
Đăng nhập để xem
|