Nghiên cứu lý luận và thực tiễn xây dựng quy định về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam
Chủ nhiệm:
ThS. Trần Hải Nam
Năm đăng ký:
2016
Năm nghiệm thu:
2017
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, lao động di cư là một phần không thể tách rời giữa các nền kinh tế. Thực tế cho thấy, lao động di cư đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của các nước nhập khẩu và các nước xuất khẩu lao động. Tuy nhiên, các quốc gia cả xuất khẩu và nhập khẩu lao động đều gặp phải những thách thức trong việc bảo vệ, đảm bảo quyền lợi cho người lao động của quốc gia mình và đảm bảo quyền lợi cho người lao động di cư quốc tế. Thực tế cho thấy lao động di cư thường phải đối mặt với các vấn đề khó khăn như môi trường làm việc, bị phân biệt đối xử so với người bản địa, hạn chế về ngôn ngữ và sự khác biệt về văn hóa,… là những rào cản khiến lao động di cư chịu thêm nhiều thiệt thòi.
Để bảo vệ quyền của người lao động di cư, cộng đồng quốc tế đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý vững chắc thông qua việc ban hành công ước quốc tế, các Hiệp định đa phương, song phương về bảo vệ quyền của người lao động di cư. Quyền con người nói chung, quyền của người lao động di cư nói riêng được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người “được hưởng các quyền cơ bản của con người, không bị phân biệt đối xử”. Ngoài ra, người lao động di cư và các thành viên gia đình họ còn được hưởng một số quyền đặc biệt như quyền đến và rời khỏi một đất nước; quyền tự do hội họp và lập hội; quyền có công việc và các điều kiện làm việc tương xứng; quyền được giáo dục và chăm sóc sức khỏe; quyền được có cuộc sống gia đình.
Quyền của người lao động di cư được đề cập một cách sâu sắc và trực tiếp thông qua Công ước số 97 (1949) và Công ước số 143 (1975) của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về lao động di cư. Hai công ước này khẳng định người lao động di cư được đối xử bình đẳng với người lao động bản địa, được hưởng các điều kiện lao động; các chế độ về an sinh xã hội, về giáo dục. Công ước quốc tế về quyền của người lao động di cư và các thành viên trong gia đình năm 1990 (Công ước 1990) được xem là Bản tuyên ngôn nhân quyền của người lao động di cư trên toàn thế giới. Thông qua Công ước này, quyền của người lao động di cư và các thành viên trong gia đình được đề cập một cách sâu sắc và đầy đủ từ các quyền về dân sự, chính trị, lao động, kinh tế, xã hội văn hóa cho đến các quyền mang tính chất đặc trưng của người lao động di cư.
Ở Việt Nam, hội nhập kinh tế quốc tế trong đó có hội nhập về lao động, sự chuyển dịch lao động quốc tế là một trong những xu hướng tất yếu đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và được thể hiện trong nhiều chủ trương, đường lối và chính sách phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định chủ trương “thực hiện đầy đủ các cam kết trong cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước”, “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước”, “mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế”. Ngày 20 tháng 01 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 145/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược hội nhập quốc tế về lao động và xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, Chiến lược đề ra nhiệm vụ hội nhập quốc tế về lao động và việc làm bao gồm các nội dung: (i) Hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực lao động và xã hội. Trong đó, chủ động nghiên cứu, ký kết, tham gia các điều ước, tiêu chuẩn và cam kết quốc tế về lao động- xã hội phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; nội luật hóa các điều ước, tiêu chuẩn và cam kết quốc tế về lao động- xã hội mà Việt Nam là thành viên; (ii) Hội nhập quốc tế về lao động và việc làm: Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, di chuyển lao động trong nước và quốc tế, đặc biệt là đưa nhiều lao động có trình độ cao đi làm việc ở nước ngoài; hoàn thiện chính sách việc làm; quản lý di cư lao động quốc tế, di chuyển thể nhân và tổ chức dịch vụ việc làm; hoàn thiện hệ thống pháp luật về quan hệ lao động phù hợp với tiêu chuẩn lao động khu vực và quốc tế; (iii) Hội nhập quốc tế về an sinh xã hội: Từng bước áp dụng các tiêu chí khu vực và quốc tế làm tiêu chí phấn đấu và thước đo đánh giá về an sinh xã hội, tập trung vào các chương trình bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội và cung cấp dịch vụ xã hội. Xây dựng và hoàn thiện các chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; thực hiện trợ cấp xã hội cho người cao tuổi… Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5 tháng 11 năm 2016 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng đã đặt ra yêu cầu giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Theo đó, sửa đổi, bổ sung, kiện toàn hệ thống pháp luật về an sinh xã hội, tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, phù hợp, các chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm an toàn vệ sinh lao động, trợ cấp xã hội...; xây dựng và triển khai chương trình hợp tác về tương hỗ bảo hiểm xã hội với các nước. Hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội, đặc biệt về quan hệ lao động và những vấn đề mới phát sinh từ quá trình thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Trên thực tế, Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện khung pháp lý của mình để tạo thuận lợi hơn, đảo bảo tốt hơn quyền của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trên cơ sở tuân thủ các luật pháp và công ước quốc tế. Hiến pháp năm 2013 đã quy định “Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam”; theo Bộ Luật Lao động năm 2012 thì “Lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật lao động Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác và được pháp luật Việt Nam bảo vệ”. Luật bảo hiểm xã hội (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014 đã quy định áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, theo đó “Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hộibắt buộc theo quy định của Chính phủ”. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu lý luận và thực tiễn xây dựng quy định bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam” sẽ cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn trong đó đưa ra quan điểm, định hướng về xây dụng chính sách bảo hiểm xã hội cho lao động nước ngoài trong giai đoạn tới khi Chính phủ sẽ ban hành Nghị định quy định chi tiết Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với lao động nước ngoài.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu đề tài nhằm cung cấp cơ sở lý luận về chính sách bảo hiểm xã hội, đặc điểm của lao động di cư và kinh nghiệm của các nước trong việc thiết kế chính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động nước ngoài của một số nước; đồng thời cung cấp cơ sở thực tiễn về tình hình lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam và sự cần thiết thiết kế chính sách bảo hiểm xã hội đối với lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trên cơ sở đó khuyến nghị một số nội dung chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
3. Kết cấu của đề tài
Đề tài được kết cấu thành 3 chương với những nội dung:
Chương 1: Cơ sở lý luận xây dựng chính sách bảo hiểm xã hội cho lao động là người nước ngoài.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn xây dựng chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài ở Việt Nam.
Chương 3: Đề xuất khung pháp lý về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận xây dựng chính sách BẢO HIỂM XÃ HỘI cho lao động là người nước ngoài
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách bảo hiểm xã hội dưới các góc độ kinh tế, xã hội, pháp luật; làm rõ đối tượng của bảo hiểm xã hội và các nguyên tắc cơ bản (Nhà nước thống nhất quản lý; mọi người lao động đều có quyền tham gia và hưởng bảo hiểm xã hội; mức hưởng gắn với mức đóng, thời gian đóng và chia sẻ cộng đồng; nguyên tắc số đông bù số ít; quỹ bảo hiểm xã hội quản lý thống nhất, công khai, hạch toán độc lập), đồng thời phân tích vai trò và chức năng của bảo hiểm xã hội đối với người lao động, doanh nghiệp và xã hội.
Về lao động di cư, chương 1 làm rõ khái niệm, đặc điểm của lao động di cư trong bối cảnh hội nhập mới và quyền được đảm bảo an sinh xã hội của lao động di cư theo các văn kiện quốc tế then chốt (Công ước số 97/1949, số 143/1975 của ILO, Công ước 1990 của Liên hợp quốc) cùng các nguyên tắc an sinh xã hội quốc tế: bình đẳng đối xử, luật áp dụng, duy trì quyền lợi, cộng dồn thời gian và có đi có lại. Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của Philippin (Luật BHYT, Luật Bảo hiểm xã hội không phân biệt quốc tịch, mạng lưới hiệp định song phương) và Hàn Quốc (BHYT quốc dân, bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm tai nạn rủi ro, bảo hiểm hưu trí quốc gia theo nguyên tắc có đi có lại), đề tài rút ra các bài học về chính sách và tổ chức thực hiện cho Việt Nam.
4.2. Chương 2: Cơ sở thực tiễn xây dựng chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài ở Việt Nam
Chương 2 làm rõ quá trình hình thành khái niệm pháp lý về “người lao động nước ngoài” qua các thời kỳ (Nghị định số 58/CP, số 105/2003/NĐ-CP, số 34/2008/NĐ-CP, Bộ luật Lao động năm 2012, Nghị định số 11/2016/NĐ-CP) cùng các quy định về điều kiện tuyển dụng, hình thức lao động, giấy phép lao động và trục xuất. Trên cơ sở số liệu của Cục Việc làm, đề tài phân tích thực trạng lao động nước ngoài tăng nhanh giai đoạn 2004-2015 (từ 12.602 lên 83.585 người), phân theo địa phương, quốc tịch, giới tính, độ tuổi, vị trí việc làm.
Đề tài luận giải sự cần thiết thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc với lao động nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế, rà soát quá trình hoàn thiện pháp luật về an sinh xã hội cho lao động nước ngoài (BHYT bắt buộc từ 2009, trợ cấp thôi việc, quy định bảo hiểm xã hội bắt buộc từ 2018 theo Luật bảo hiểm xã hội năm 2014). Trên cơ sở rà soát 05 chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc hiện hành và mức đóng góp, chương 2 chỉ ra ưu điểm (khung pháp lý ngày càng hoàn thiện) và những vướng mắc khi áp dụng với lao động nước ngoài: chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết; điều kiện 20 năm đóng để hưởng hưu trí chưa phù hợp với đặc thù làm việc ngắn hạn của lao động nước ngoài; thời hạn giấy phép lao động và quy định trục xuất khiến lao động nước ngoài khó hoàn tất thủ tục hưởng quyền lợi; áp lực tài chính với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nước ngoài.
4.3. Chương 3: Đề xuất khung pháp lý về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam
Trên cơ sở dự báo lao động nước ngoài tăng khoảng 15%/năm giai đoạn 2016-2020 (từ 83.585 người năm 2015 lên khoảng 168.119 người năm 2020), chương 3 xác định bối cảnh, quan điểm và nguyên tắc xây dựng chính sách: phù hợp pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế; bảo đảm bình đẳng giữa lao động Việt Nam và lao động nước ngoài; đồng bộ với Bộ luật Lao động và pháp luật xuất nhập cảnh; thuận tiện cho lao động nước ngoài trong đăng ký, đóng và hưởng quyền lợi; áp dụng các nguyên tắc bình đẳng đối xử, cộng dồn thời gian, chuyển quyền lợi ra nước ngoài và Nhà nước thống nhất quản lý.
Đề tài đề xuất cụ thể: đối tượng tham gia là lao động nước ngoài có hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên và người sử dụng lao động nước ngoài tương ứng; thực hiện đủ 05 chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc theo lộ trình, ưu tiên chế độ ngắn hạn trước; mức đóng: người lao động 8% vào quỹ hưu trí - tử tuất, người sử dụng lao động 18% (3% ốm đau - thai sản, 1% tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, 14% hưu trí - tử tuất); tổ chức thực hiện gắn với cộng dồn thời gian theo hiệp định song phương, hồ sơ song ngữ. Đề tài kiến nghị lộ trình linh hoạt, tham vấn các bên liên quan, rà soát đồng bộ pháp luật, đẩy mạnh truyền thông, nâng cao năng lực cơ quan bảo hiểm xã hội và xúc tiến ký các Hiệp định song phương về bảo hiểm xã hội.
Thành viên đề tài:
ThS. Nguyễn Thị Hà, Vụ Bảo hiểm xã hội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Thư ký; Th.s Nguyễn Hữu Thọ, Vụ Bảo hiểm xã hội, Thành viên thực hiện chính; Th.s Đặng Minh Thư, Vụ Bảo hiểm xã hội, Thành viên thực hiện chính; Th.s Vũ Hải Nam, Vụ Bảo hiểm xã hội, Thành viên thực hiện chính; Th.s Lê Thị Hương Thơm, Vụ Bảo hiểm xã hội, Thành viên thực hiện chính.
Từ khóa:
Bảo hiểm xã hội bắt buộc Người lao động nước ngoài An sinh xã hội Việt Nam
|
Tên file |
View |
|
CB2016-05-12.pdf
|
Đăng nhập để xem
|