Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện tầng bảo hiểm xã hội cơ bản tại Việt Nam
Chủ nhiệm:
Th.S Nguyễn Duy Cường
Năm đăng ký:
2022
Năm nghiệm thu:
2024
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ định hướng cải cách tại Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng một hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH) linh hoạt, đa dạng, đa tầng và hiện đại, hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân. Việc xây dựng hệ thống đa tầng này đặt trọng tâm vào cải cách và hoàn thiện tầng BHXH cơ bản (gồm cả bắt buộc và tự nguyện) trên nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng hệ thống luật pháp hiện hành (Luật BHXH năm 2014, Luật Việc làm, Luật An toàn, vệ sinh lao động) đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế, bất cập cần được đánh giá và bổ sung sửa đổi. Nhằm thể chế hóa các định hướng của Đảng, khắc phục các điểm nghẽn thực tiễn để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế trong bối cảnh già hóa dân số, việc nghiên cứu đề tài là hết sức cấp thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đánh giá thực trạng thực hiện về tầng BHXH cơ bản nhằm đề xuất hoàn thiện tầng BHXH cơ bản trong hệ thống BHXH đa tầng tại Việt Nam.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng, hoàn thiện tầng BHXH cơ bản trong hệ thống BHXH đa tầng.
- Đánh giá thực trạng tầng BHXH cơ bản tại Việt Nam.
- Đánh giá tác động, đề xuất hoàn thiện tầng BHXH cơ bản trong hệ thống BHXH đa tầng tại Việt Nam và khuyến nghị giải pháp, điều kiện triển khai thực hiện.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu được chia thành 03 chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện tầng bảo hiểm cơ bản
trong hệ thống BHXH đa tầng
Chương II: Thực trạng tầng BHXH cơ bản ở Việt Nam
Chương III: Đề xuất hoàn thiện tầng BHXH cơ bản
4. Nội dung chính của đề tài
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện tầng bảo hiểm cơ bản
trong hệ thống BHXH đa tầng. Nội dung chương này tập trung làm rõ các khái niệm cốt lõi, khẳng định hệ thống BHXH đa tầng được xây dựng nhằm hiện thực hóa các quyền phổ quát về an sinh, mở rộng diện bao phủ và không bỏ sót đối tượng. Theo khung lý thuyết của ILO và WB, hệ thống đa tầng thường gồm tầng trợ cấp hưu trí xã hội (tầng 0/phi đóng góp do ngân sách nhà nước chi trả), tầng BHXH cơ bản (tầng 1/bắt buộc và tự nguyện, hoạt động trên cơ sở đóng góp) và tầng bảo hiểm hưu trí bổ sung (tầng 2/tự nguyện theo nguyên tắc thị trường). Trong cấu trúc này, tầng BHXH cơ bản giữ vị trí cốt lõi, quyết định sự thành bại và tính bền vững của toàn hệ thống, đồng thời có mối liên kết, thúc đẩy chặt chẽ với các tầng khác. Chương I cũng thiết lập khung lý thuyết đánh giá chính sách công (dựa trên các tiêu chí: hiệu lực, hiệu quả, tính công bằng, tính đáp ứng, tính đầy đủ và tính bền vững tài chính) để áp dụng vào hệ thống bảo hiểm. Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia và một số quốc gia khác, đề tài rút ra bài học cho Việt Nam về xu hướng lồng ghép các chương trình hưu trí đặc biệt (như khối công chức) vào quỹ chung, tăng cường vai trò hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đối với nhóm phi chính thức, và xây dựng cơ chế chặt chẽ đối với việc hưởng bảo hiểm một lần để bảo vệ an sinh dài hạn.
Chương 2. Thực trạng tầng BHXH cơ bản ở Việt Nam. Chương này đánh giá sâu sắc thực tế triển khai dựa trên các dữ liệu thống kê từ giai đoạn 2016–2022 trong bối cảnh dân số, lao động và việc làm tại Việt Nam đang chịu áp lực lớn từ tốc độ già hóa. Mặc dù hệ thống pháp luật hiện hành đã tạo ra hành lang lý thuyết tương đối đầy đủ bao quát các chế độ ngắn hạn và dài hạn, thực trạng triển khai bộc lộ nhiều điểm yếu nghiêm trọng. Diện bao phủ tham gia BHXH thực tế còn thấp (đến hết năm 2022 mới đạt 37,5% lực lượng lao động trong độ tuổi), một phần do quy định pháp luật chưa hướng tới bao phủ toàn dân và chưa bắt buộc đối với một số nhóm có khả năng như chủ hộ kinh doanh. Diện bao phủ đối tượng thụ hưởng cũng ở mức thấp (chỉ chiếm khoảng 35% số người sau độ tuổi nghỉ hưu) do thời gian đóng tối thiểu để hưởng hưu trí quá dài (20 năm), tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội quá cao (80 tuổi), và tỷ lệ người lựa chọn rút BHXH một lần có xu hướng gia tăng nhanh. Tình trạng tuân thủ pháp luật kém dẫn đến trốn đóng, chậm đóng kéo dài ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với số tiền tồn đọng lớn. Về khía cạnh tài chính, các quỹ thành phần như quỹ hưu trí và tử tuất, quỹ ốm đau - thai sản, quỹ TNLĐ-BNN và quỹ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cơ bản vẫn kết dư ổn định trong ngắn hạn nhưng việc quản lý đầu tư chưa đa dạng và thiếu chiến lược dài hạn; các chính sách ngắn hạn như BHTN hay TNLĐ-BNN mới dừng lại ở việc xử lý hậu quả (chi trả trợ cấp) mà chưa chú trọng giải pháp chủ động phòng ngừa, duy trì việc làm hay đào tạo nghề.
Chương 3. Đề xuất hoàn thiện tầng BHXH cơ bản. Trên cơ sở dự báo bối cảnh kinh tế - xã hội và lao động giai đoạn 2022–2030, chương cuối cùng đưa ra các quan điểm, định hướng và phương án sửa đổi mang tính toàn diện để hoàn thiện tầng BHXH cơ bản. Đề tài đề xuất phương án mở rộng đối tượng tham gia bắt buộc (chủ hộ kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp/hợp tác xã không hưởng lương), hoàn thiện căn cứ đóng gắn liền với tiền lương/thu nhập thực tế và sửa đổi các khoản trợ cấp phù hợp với định hướng cải cách tiền lương tại Nghị quyết số 27-NQ/TW. Các chế độ cụ thể được kiến nghị sửa đổi mạnh mẽ: linh hoạt hóa điều kiện hưởng hưu trí, thắt chặt quy định rút một lần, thiết kế lại chế độ ốm đau - thai sản phù hợp với thực tế và tăng tính liên kết hỗ trợ giữa tầng cơ bản với tầng trợ cấp hưu trí xã hội. Để tăng sức hút cho chính sách tự nguyện, đề tài đề xuất bổ sung các quy định tăng tính hấp dẫn và nâng mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách cho nông dân, người nghèo. Các phương án này đều được phân tích, đánh giá kỹ lưỡng về tính khả thi trong thực hiện (như mở rộng đối tượng bắt buộc, căn cứ đóng, tài chính hưu trí) đi kèm với việc xác định rõ điều kiện và lộ trình cụ thể, đặc biệt là việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, nâng cao năng lực và hiệu quả của bộ máy tổ chức thực hiện chính sách.
5. Kết luận
Tóm lại, đề tài đã hệ thống hóa thành công các cơ sở khoa học, phân tích trực diện những hạn chế về độ bao phủ, tính tuân thủ và bài toán cân đối tài chính của hệ thống BHXH cơ bản tại Việt Nam hiện nay. Những đề xuất đổi mới mang tính hệ thống trong báo cáo tổng hợp là cơ sở thực tiễn quan trọng, giải quyết hài hòa các mục tiêu an sinh xã hội, góp phần xây dựng thành công hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng vững chắc tại Việt Nam trong giai đoạn tới.
Thành viên đề tài:
Th.S Lê Thị Minh Nguyệt, Vu Bảo hiểm xã hội. Th.S Vũ Hải Nam, Vu Bảo hiểm xã hội; Th.S Bùi Doãn Trung, Cuc An toàn lao động; CN. Đỗ Ngọc Thọ, Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội; Th.S Phạm Thị Hương, Ban Quản lý thu- Sổ thẻ; T.S Mai Thị Dung, Đại học Lao động – Xã hội; T.S Mai Thị Hường, Đại học Lao động – Xã hội; Th.S Vũ Đức Khiên, BHXH tỉnh Hải Dương; Th.S Nguyễn Thị Hồng Tuyết, Vu Bảo hiểm xã hội.
Từ khóa:
Bảo hiểm xã hội Việt Nam