Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực tiền lương, lao động và quan hệ lao động
Chủ nhiệm:
CN. Lê Xuân Thành
Năm đăng ký:
2016
Năm nghiệm thu:
2017
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách hành chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh tạo đà cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Ngay từ Đại hội VI (năm 1986), Đảng đã có chủ trương cải cách hành chính, cải cách lớn về tổ chức bộ máy của các cơ quan Nhà nước theo hướng xây dựng và thực hiện một cơ chế quản lý nhà nước thể hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp; tăng cường bộ máy của nhà nước từ trung ương đến cơ sở thành một hệ thống nhất, có sự phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm từng cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân biệt chức năng quản lý hành chính - kinh tế với quản lý sản xuất - kinh doanh, kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ, phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội. Xuyên suốt các kỳ Đại hội VII, VIII, IX, X, cải cách hành chính luôn được Đảng quan tâm chỉ đạo. Trong Báo cáo chính trị trình Đại hội lần thứ XII của Đảng, tiếp tục khẳng định: "Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ - pháp quyền, quy định trách nhiệm và cơ chế giải trình của các cơ quan nhà nước; giảm mạnh, bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức; đẩy nhanh việc áp dụng chính phủ điện tử."
Triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, Chính phủ chủ trương tập trung cải cách thủ tục hành chính (TTHC) theo hướng tinh giản, gắn với nâng cao chất lượng chính sách, pháp luật; chỉ quy định những TTHC thực sự cần thiết, hợp lý, đúng pháp luật và tạo thuận lợi nhất cho người dân, doanh nghiệp; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, cung cấp dịch vụ công (DVC) và thực hiện chính phủ điện tử; đẩy mạnh xã hội hóa các loại DVC phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện cải cách hành chính theo Nghị quyết của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã triển khai nhiều giải pháp trong lĩnh vực lao động, tiền lương và quan hệ lao động (LĐ, TL và QHLĐ), tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách TTHC và nâng cao chất lượng cung cấp DVC. Tổng kết giai đoạn 2011-2015 cho thấy công tác cải cách hành chính đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp DVC trong lĩnh vực LĐ, TL và QHLĐ là hết sức cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong bối cảnh Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2020 quyết tâm xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển, hành động, phục vụ người dân và doanh nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Cung cấp cơ sở khoa học, lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất quan điểm, mục tiêu, định hướng, mô hình, giải pháp và lộ trình hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp DVC lĩnh vực LĐ, TL và QHLĐ.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về hoàn thiện thể chế và cải cách hành chính, đổi mới cơ chế cung cấp DVC trong lĩnh vực LĐ, TL và QHLĐ.
Chương II: Thực trạng thể chế, cải cách hành chính và cơ chế cung cấp DVC trong lĩnh vực LĐ, TL và QHLĐ.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp DVC trong lĩnh vực LĐ, TL và QHLĐ.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương I: Cơ sở lý luận về hoàn thiện thể chế và cải cách hành chính, đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực lao động, tiền lương và quan hệ lao động
Chương I xây dựng nền tảng lý luận cho đề tài, tập trung làm rõ khái niệm và đặc điểm của dịch vụ công (DVC). Theo đó, DVC là những loại dịch vụ mà nhà nước cung ứng dựa trên chức năng phục vụ xã hội, không bao gồm chức năng công quyền như lập pháp, hành pháp, ngoại giao. DVC trong lĩnh vực LĐ, TL và QHLĐ được phân loại thành hai nhóm: dịch vụ hành chính công (DVHCC) gắn với chức năng quản lý nhà nước - gồm tiếp nhận đăng ký nội quy lao động (NQLĐ) và hòa giải/trọng tài giải quyết tranh chấp lao động (TCLĐ); và dịch vụ sự nghiệp công - gồm tư vấn pháp luật, hỗ trợ thương lượng tập thể, tập huấn nghiệp vụ.
Về thể chế cung cấp DVC, đề tài phân tích khái niệm thể chế theo nhiều cách tiếp cận (Douglas North, Ngân hàng Thế giới) và làm rõ thể chế LĐ, TL và QHLĐ là hệ thống những luật định, quy chế, quy định pháp quy về tiêu chuẩn lao động, quan hệ lao động và quản lý nhà nước về lao động. Về mô hình cung ứng DVC, đề tài phân tích ba phương thức chính: cung ứng trực tiếp; liên kết/hợp tác với tư nhân và tổ chức phi chính phủ; và ủy quyền cung ứng. Các tiêu chí đánh giá chất lượng DVC được xây dựng theo cách tiếp cận quá trình, bao gồm mục tiêu, yếu tố đầu vào (hạ tầng, nhân sự, yêu cầu khách hàng), quá trình xử lý, đầu ra và kết quả tác động.
Từ kinh nghiệm quốc tế, đề tài rút ra sáu bài học cho Việt Nam: tăng cường cơ sở pháp lý ổn định cho hệ thống cung ứng DVC; phân định rõ những DVC do nhà nước trực tiếp cung ứng; đa dạng hóa phương thức quản lý theo mô hình 3E (tiết kiệm - hiệu quả - hiệu lực); hỗ trợ khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng DVC; ban hành cơ chế, tiêu chuẩn, định mức chất lượng DVC; và xác định đúng đối tượng chính sách xã hội thụ hưởng DVC.
4.2. Chương II: Thực trạng thể chế, cải cách hành chính và cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực lao động, tiền lương và quan hệ lao động
Chương II phân tích thực trạng cung cấp hai DVHCC trọng tâm. Về đăng ký NQLĐ: theo Điều 119-121 Bộ luật Lao động 2012, doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên phải xây dựng và đăng ký NQLĐ tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh trong thời hạn 10 ngày. Tuy nhiên, thực tế triển khai đạt tỷ lệ rất thấp: trong 19 tỉnh, thành phố được khảo sát, chỉ có 3 địa phương đạt tỷ lệ trên 25%, Hà Nội chỉ đạt 1,2%. Khoảng 30% doanh nghiệp phải đăng ký lại lần thứ hai do hồ sơ không đầy đủ hoặc nội dung không phù hợp pháp luật. Về ứng dụng công nghệ thông tin, chỉ 17/30 tỉnh khảo sát áp dụng DVC trực tuyến đối với đăng ký NQLĐ, trong đó duy nhất tỉnh Nghệ An đạt mức độ 4.
Về hòa giải và giải quyết TCLĐ: tính đến 31/12/2016, có 1.338 hòa giải viên lao động (HGVLĐ) được bổ nhiệm tại 40 tỉnh, thành phố, trong đó 91,75% có trình độ đại học trở lên và 66,8% là công chức nhà nước. Toàn bộ HGVLĐ hoạt động theo cơ chế kiêm nhiệm, thời gian dành cho công tác hòa giải chỉ chiếm 20-30% tổng thời gian làm việc. Kết quả giải quyết TCLĐ cá nhân đạt tỷ lệ hòa giải thành 60%, không thành 40%. Hội đồng trọng tài lao động (HĐTTLĐ) dù đã được thành lập ở hầu hết các tỉnh nhưng chưa có vụ việc nào được đưa ra giải quyết, do cơ chế thương lượng tập thể chưa vận hành thực chất. Giải quyết TCLĐ tập thể về quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện cũng hầu như không phát sinh.
Đánh giá chung, công tác cải cách thể chế và cung cấp DVC lĩnh vực LĐ, TL và QHLĐ giai đoạn vừa qua đạt một số kết quả nhất định: hình thành mạng lưới HGVLĐ trên cả nước, bước đầu áp dụng DVC trực tuyến, Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động cung cấp nhiều dịch vụ hỗ trợ. Song vẫn còn nhiều hạn chế về tỷ lệ đăng ký NQLĐ thấp, hiệu quả hòa giải chưa cao, HĐTTLĐ chưa hoạt động, chế độ đãi ngộ HGVLĐ chưa phù hợp, và việc ứng dụng công nghệ thông tin chưa đồng bộ.
4.3. Chương III: Giải pháp hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực lao động, tiền lương và quan hệ lao động
Trên cơ sở phân tích bối cảnh mới (chuyển đổi sang kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, dân chủ hóa đời sống xã hội, hiện đại hóa nền hành chính), Chương III đề xuất quan điểm và bốn định hướng cải cách: (1) hoàn chỉnh thể chế quản lý nhà nước bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và công khai minh bạch; (2) xác định rõ nội dung, quyền, trách nhiệm quản lý hành chính vĩ mô và phân cấp mạnh hơn cho địa phương; (3) xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, có chế độ tiền lương tương xứng; (4) hiện đại hóa nền hành chính thông qua ứng dụng triệt để công nghệ thông tin.
Đề tài đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể:
(1) Đối với đăng ký NQLĐ: sửa đổi quy định hồ sơ cho phép thay biên bản công đoàn bằng biên bản lấy ý kiến người lao động (trên 50% đồng ý) tại những doanh nghiệp chưa có công đoàn cơ sở; triển khai đồng bộ đăng ký NQLĐ trực tuyến mức độ 4 trên toàn quốc; Bộ LĐ-TB&XH xây dựng phần mềm áp dụng chung cho 63 tỉnh, thành phố kết nối với cổng thông tin điện tử của Bộ.
(2) Đối với hòa giải TCLĐ: chuyên nghiệp hóa và tăng cường xã hội hóa đội ngũ HGVLĐ; cải cách quy trình phân công để Trưởng phòng Lao động - TB&XH trực tiếp quyết định cử HGVLĐ thay vì phải qua Chủ tịch UBND cấp huyện; nâng chế độ đãi ngộ và ban hành quy chế hoạt động của HGVLĐ.
(3) Đối với TCLĐ tập thể về quyền: đề nghị bỏ quy định Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết, chuyển sang giao cho HĐTTLĐ với thẩm quyền phán quyết.
(4) Đối với HĐTTLĐ: nâng cấp thành cơ quan bán tư pháp, có thẩm quyền vừa phán quyết (TCLĐ cá nhân và tập thể về quyền) vừa hòa giải (TCLĐ tập thể về lợi ích); bổ sung Phó Chủ tịch và thành viên dự khuyết; quy định linh hoạt để họp khi vắng không quá 1/3 thành viên.
(5) Đối với dịch vụ hỗ trợ: đánh giá lại và sửa đổi chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động; chuẩn hóa quy trình từng loại dịch vụ; hướng tới mục tiêu đến năm 2020, 100% TTHC trong lĩnh vực LĐ, TL và QHLĐ được cung cấp trực tuyến ở mức độ 3 hoặc 4.
Thành viên đề tài:
ThS. Nguyễn Huy Khoa, Cục Quan hệ Lao động và Tiền lương, Bộ LĐ-TB&XH, Thư ký khoa học; ThS. Nguyễn Thị Bích Hồng, Cục Quan hệ Lao động và Tiền lương, Bộ LĐ-TB&XH, Thành viên; CN. Lê Thị Phương Thảo, Cục Quan hệ Lao động và Tiền lương, Bộ LĐ-TB&XH, Thành viên; ThS. Vũ Minh Tiến, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Thành viên; TS. Nguyễn Văn Bình, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ LĐ-TB&XH, Thành viên.
Từ khóa:
Dịch vụ công dịch vụ hành chính công thể chế cải cách hành chính quan hệ lao động tiền lương nội quy lao động tranh chấp lao động hòa giải viên lao động hội đồng trọng tài lao động chính phủ điện tử
|
Tên file |
View |
|
CT2016-02-05.pdf
|
Đăng nhập để xem
|