Xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp giai đoạn 2021 – 2025

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phúc

Năm đăng ký: 2021

Năm nghiệm thu: 2022

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đã mang lại nhiều bước phát triển mới cho quan hệ lao động, từ việc gia tăng số lượng người tham gia, hoàn thiện khung khổ pháp luật đến bảo đảm các quyền của người lao động. Tuy nhiên, bối cảnh mới giai đoạn 2021 – 2025 đặt ra những yêu cầu cao hơn khi Việt Nam bắt đầu thực hiện các nghĩa vụ từ Công ước 98 của ILO, các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA), Chỉ thị 37-CT/TW của Ban Bí thư và Bộ luật Lao động năm 2019. Đặc biệt, Bộ luật Lao động năm 2019 cho phép thành lập các tổ chức đại diện của người lao động tại doanh nghiệp không thuộc hệ thống Công đoàn Việt Nam. Điều này dẫn đến nhiều vấn đề mới và nhạy cảm: các tổ chức này có quyền tự chủ nhất định nên việc can thiệp hành chính của nhà nước sẽ bị giới hạn; trong giai đoạn đầu họ còn thiếu năng lực, kinh nghiệm nên nhu cầu được hỗ trợ là tất yếu; nếu Nhà nước không chủ động hỗ trợ, các tổ chức ngoài nhà nước sẽ can thiệp, tiềm ẩn phức tạp về an ninh chính trị; nhu cầu liên kết không chính thức giữa các tổ chức thông qua mạng xã hội có thể bị thao túng bởi các thế lực bên ngoài; và sự bình đẳng về quyền lợi với công đoàn cơ sở sẽ thúc đẩy nhu cầu tìm kiếm sự hỗ trợ kỹ thuật của họ. Nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết 06-NQ/TW về việc bảo đảm sự ra đời, hoạt động thuận lợi, lành mạnh của tổ chức này gắn liền với giữ vững ổn định chính trị - xã hội, việc nghiên cứu đề tài “Xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp giai đoạn 2021-2025” là một nhiệm vụ khoa học hoàn toàn mới và hết sức cấp thiết.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Đề xuất giải pháp có tính hệ thống nhằm xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp thành lập, hoạt động thuận lợi, hiệu quả và đúng quy định của pháp luật, phù hợp với các cam kết quốc tế về lao động khi BLLĐ 2019 có hiệu lực.

Mục tiêu cụ thể:

- Mục tiêu cụ thể 1: Làm rõ được cơ sở pháp lý của việc hỗ trợ các tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp.

- Mục tiêu cụ thể 2: Phân tích cơ sở thực tiễn của việc xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp.

- Mục tiêu cụ thể 3: Đề xuất được các giải pháp xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp để các tổ chức này hoạt động thuận lợi, lành mạnh, đúng pháp luật giai đoạn 2021-2025.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, báo cáo tổng hợp bao gồm các nội dung sau:

Chương 1: Cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học của việc hỗ trợ các tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp.

Chương 3: Đề xuất giải pháp xây dựng các cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp.

4. Nội dung chính của đề tài

Chương 1: Cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học của việc hỗ trợ các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Nội dung chương này tập trung làm rõ hệ thống các khái niệm cơ bản về quyền tổ chức, tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp, cùng các cơ chế và thiết chế hỗ trợ. Quyền tổ chức được khẳng định là quyền tất yếu của người lao động nhằm tạo sức mạnh đối trọng với người sử dụng lao động, được bảo vệ bởi các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO như Công ước số 87 và Công ước số 98, cũng như được thể chế hóa trong các văn kiện của Đảng (Chỉ thị 37-CT/TW, Nghị quyết 06-NQ/TW) và Bộ luật Lao động năm 2019. Tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp được định nghĩa là tổ chức do người lao động tự nguyện lập ra, bình đẳng với công đoàn cơ sở về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động, hoạt động dựa trên nguyên tắc tự quản, dân chủ, minh bạch và tuân thủ pháp luật. Bản chất của việc hỗ trợ là giúp đỡ các tổ chức này nâng cao năng lực quản trị nội bộ và thực hiện các nghiệp vụ quan hệ lao động (đối thoại, thương lượng tập thể, giải quyết tranh chấp, đình công), cần phân biệt rõ ràng với hành vi thao túng, trục lợi hoặc can thiệp sâu của người sử dụng lao động hay các thế lực chính trị. Chương 1 cũng phân định rõ chức năng giữa cơ quan quản lý nhà nước (Bộ, Sở, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban quản lý khu công nghiệp) với các tổ chức chính trị - xã hội (Công đoàn Việt Nam, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên) và các tổ chức hợp pháp khác trong việc tham gia hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn, tập huấn nâng cao năng lực cho người lao động. Cuối cùng, chương này đúc kết các bài học từ kinh nghiệm quốc tế (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thụy Điển, Indonesia...) về cơ chế sàng lọc trước đăng ký, kiểm tra tài chính, hủy bỏ đăng ký thông qua thủ tục tư pháp, đồng thời lưu ý các giới hạn can thiệp hành chính để không vi phạm nguyên tắc tự do hiệp hội của ILO.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Chương này đánh giá thực trạng dựa trên các dữ liệu khảo sát thực tế tại 4 tỉnh/thành phố (Hà Nội, Bắc Ninh, Đồng Nai, Bình Dương) về nhận thức, nhu cầu thành lập và gia nhập tổ chức của người lao động. Kết quả khảo sát cho thấy những dự báo về đặc điểm số lượng, quy mô, xu hướng liên kết không chính thức ở cấp liên doanh nghiệp và nhu cầu được hỗ trợ kỹ thuật, tài chính trong giai đoạn đầu hoạt động khi năng lực tự thân của tổ chức còn yếu. Nội dung nghiên cứu đi sâu phân tích, đánh giá toàn diện điều kiện, khả năng hỗ trợ hiện nay của các thiết chế như cơ quan Nhà nước, các cấp Công đoàn Việt Nam, Đoàn Thanh niên, các tổ chức phi chính phủ, văn phòng luật sư, công ty tư vấn, cùng đội ngũ hòa giải viên và trọng tài viên lao động. Song song với đó, đề tài thẳng thắn chỉ ra các nguy cơ, khả năng sử dụng danh nghĩa hỗ trợ nhằm mục đích ngoài quan hệ lao động, bao gồm hành vi thao túng từ phía người sử dụng lao động, trục lợi về kinh tế và đặc biệt là lợi dụng vào mục đích chính trị của các tổ chức ngoại bang. Tổng kết chương là phần đánh giá chung về những thuận lợi, khó khăn cùng các nguyên nhân gốc rễ, làm cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc định hình các giải pháp xây dựng mô hình hỗ trợ thích hợp.

Chương 3: Đề xuất giải pháp xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp giai đoạn 2021 - 2025

Chương cuối cùng xây dựng các giải pháp dựa trên bối cảnh kinh tế - xã hội, tình hình lao động - việc làm và yêu cầu tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị. Đề tài đề xuất một mô hình tổng thể các cơ chế, thiết chế hỗ trợ, trong đó phân tách rõ ràng các nhóm giải pháp cơ chế. Cơ chế hỗ trợ bao gồm bốn nội dung cốt lõi: hỗ trợ quá trình thành lập và đăng ký hoạt động hợp pháp; hỗ trợ tăng cường năng lực quản trị nội bộ và thực thi pháp luật; hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp cho các quá trình đối thoại, thương lượng, giải quyết tranh chấp lao động; và hỗ trợ về mặt thông tin, dữ liệu phục vụ hoạt động. Về thiết chế hỗ trợ, đề tài định vị rõ vị trí, vai trò của từng cơ quan trong hệ thống bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhằm bảo đảm tính khả thi khi vận hành, chương này đưa ra các giải pháp đồng bộ về thể chế, kiện toàn bộ máy, nâng cao nguồn nhân lực chuyên trách và cơ chế tài chính phù hợp. Cuối cùng, đề tài thiết lập một lộ trình thực hiện cụ thể cùng các điều kiện bảo đảm đi kèm, hướng tới việc hiện thực hóa mô hình một cách an toàn, hiệu quả, đóng góp vào mục tiêu xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

 

Thành viên đề tài:

ThS. Nguyễn Thị Yến, Trung tâm Hỗ trợ phát triển QHLĐ TS. Vũ Minh Tiến, Viện Công nhân – Công đoàn TS. Đào Xuân Hội, Trường Đại học Lao động – Xã hội ThS. Ngô Hoàng, Vụ Pháp Chế ThS. Phạm Thị Chung, Vụ Hợp tác – Quốc tế ThS. Phạm Huy Tú, Viện Khoa học - Lao động và Xã hội ThS. Bùi Thị Hoàn, Cục QHLĐ và Tiền lương CN. Phạm Thị Minh Nguyệt, Cục QHLĐ và Tiền lương CN. Nguyễn Thị Phương Nga, Trung tâm Hỗ trợ phát triển QHLĐ

Từ khóa: Doanh nghiệp Người lao động Cơ chế Thiết chế Giai đoạn 2021 – 2025

Tên file View
CB2021-08 Đăng nhập để xem
Đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động trong doanh nghiệp thích ứng với sự thay đổi công nghệ trong bối cảnh CMCN lần thứ 4

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Hồng Phong

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2023

Giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Bao Cường

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp giai đoạn 2021 – 2025

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phúc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Phát triển lực lượng lao động kỹ năng số đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Đoàn Thị Yến

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động đến năm 2030

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Hà

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp giai đoạn 2021 – 2025

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phúc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Việc làm trong phát triển kinh tế biển Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Hoàng Nguyên

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2021

Xây dựng hệ thống chỉ số cốt lõi để đo lường, đánh giá hiện trạng an toàn, vệ sinh lao động ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Chử Thị Lân

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2021

Đánh giá tác động định lượng của Hiệp định CPTPP và EVFTA lên vấn đề lao động và việc làm đến năm 2025

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: TS. Phạm Ngọc Toàn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp cải thiện việc làm thâm dụng tri thức ở việt nam đến năm 2025

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Ths.Ngô Xuân Liễu

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2021

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |