Nhận diện thách thức thực hiện mục tiêu phát triển bền vững về việc làm (mục tiêu số 8.5 và 8.8) đối với lao động trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Chủ nhiệm:
Chử Thị Lân
Năm đăng ký:
2023
Năm nghiệm thu:
2023
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lao động phi chính thức tồn tại như một tất yếu khách quan trong mọi nền kinh tế và đóng vai trò như một bệ đỡ, nơi trú ẩn tạm thời giải quyết vấn đề việc làm khi hệ thống kinh tế đối mặt với các cú sốc lớn. Tuy nhiên, tại Việt Nam, đây lại là nhóm lao động yếu thế, dễ bị tổn thương, có thu nhập thấp, không ổn định, giờ làm việc dài, ít cơ hội phát triển kỹ năng và gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận các chính sách bảo trợ, phúc lợi xã hội cơ bản hay pháp luật lao động. Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hiệp quốc với nguyên tắc cốt lõi “Không để ai bị bỏ lại phía sau” đặt ra yêu cầu cấp bách phải quan tâm, bảo vệ và thúc đẩy nhóm đối tượng này. Do đó, việc thực hiện nghiên cứu nhận diện các thách thức trong việc triển khai mục tiêu số 8.5 (hướng tới việc làm đầy đủ, năng suất, việc làm bền vững và trả công bình đẳng) và mục tiêu số 8.8 (bảo vệ quyền lao động, thúc đẩy môi trường làm việc an toàn, đảm bảo an toàn) mang tính cấp thiết sâu sắc cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Để giải quyết vấn đề này, đề tài xác định mục tiêu chung là nghiên cứu các thách thức thực hiện hai mục tiêu cụ thể 8.5 và 8.8 đối với lao động có việc làm trong khu vực phi chính thức tại Việt Nam, thiết lập phạm vi nội dung giới hạn trong hai mục tiêu trên và cập nhật các tài liệu, chính sách đến năm 2023.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Nghiên cứu thách thức thực hiện mục tiêu về việc làm trong phát triển bền vững (mục tiêu số 8.5 và 8.8) đối với lao động có việc làm khu vực phi chính thức ở Việt Nam.
3. Kết cấu của đề tài
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan chính sách và kết quả thực hiện mục tiêu về việc làm trong phát triển bền vững (mục tiêu 8.5 và 8.8) đối với lao động có việc làm khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Chương 2. Nhận diện thách thức trong việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững số 8.5 và 8.8 đối với lao động khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Chương 3: Đề xuất các giải pháp và hàm ý chính sách liên quan đến lao động trong khu vực phi chính thức nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững số 8.5 và 8.8
4. Nội dung chính của đề tài
Chương 1: Tổng quan chính sách và kết quả thực hiện mục tiêu về việc làm trong phát triển bền vững (mục tiêu 8.5 và 8.8) đối với lao động có việc làm khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Chương này tập trung làm rõ hệ thống nội hàm khái niệm và khung khổ chính sách, lộ trình quốc gia liên quan đến người lao động trong khu vực phi chính thức. Trên cơ sở các tiêu chuẩn quốc tế của Hội nghị quốc tế về thống kê lao động (ICLS 15 và ICLS 17), báo cáo phân định rõ “khu vực phi chính thức” dựa theo đặc trưng của cơ sở sản xuất kinh doanh hộ gia đình không có tư cách pháp nhân, và “lao động phi chính thức” dựa theo tính chất việc làm không được pháp luật bảo vệ, không đóng thuế thu nhập hoặc không hưởng bảo trợ xã hội. Đi cùng với đó là các định nghĩa về việc làm đầy đủ, việc làm hiệu quả, việc làm tốt và môi trường làm việc an toàn, lành mạnh. Về mặt chính sách, Việt Nam đã xây dựng lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 thông qua Quyết định số 681/QĐ-TTg năm 2019 và sau đó điều chỉnh bằng Quyết định số 841/QĐ-TTg năm 2023, giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì các chỉ tiêu cốt lõi. Hệ thống chính sách triển khai mục tiêu 8.5 và 8.8 bao gồm các văn bản hướng dẫn Luật Việc làm, các đề án hỗ trợ học sinh sinh viên khởi nghiệp, chương trình trợ giúp người khuyết tật, chiến lược phát triển thanh niên, các quy định tín dụng ưu đãi từ Quỹ Quốc gia về việc làm, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thông tư hướng dẫn thực thi Luật An toàn, vệ sinh lao động.
Đánh giá kết quả thực hiện cho thấy chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp chung giai đoạn 2016 - 2020 luôn giữ dưới mức 3% và đạt mục tiêu lộ trình, dù có biến động tăng nhẹ trong giai đoạn dịch COVID-19 và duy trì ổn định ở mức 2,30% vào quý 3/2023. Đối với chỉ tiêu tỷ lệ thiếu việc làm, sau khi tăng cao do dịch bệnh (đạt 3,1% năm 2021), con số này đã giảm xuống còn 2,06% vào quý 3/2023 nhờ sự phục hồi kinh tế và các giải pháp kết nối cung cầu của cơ quan chức năng. Tuy nhiên, các kết quả định lượng này chủ yếu phản ánh khía cạnh “tạo việc làm đầy đủ” chứ chưa thể hiện toàn diện chất lượng việc làm tốt hay năng suất cao của lao động phi chính thức. Về mục tiêu 8.8, số liệu thống kê tai nạn lao động năm 2022 giảm đáng kể so với năm 2017 và tần suất tai nạn lao động hàng năm giảm khoảng 4,5% đạt mục tiêu đề ra. Mặc dù vậy, công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động vẫn đối mặt với khoảng trống lớn khi các chỉ tiêu hiện hành chưa phản ánh hết khía cạnh phi chính thức, đặc biệt là lao động nữ, đồng thời phần lớn lao động khu vực này chưa được tiếp cận quyền lợi từ quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp do tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội còn rất thấp.
Chương 2. Nhận diện thách thức trong việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững số 8.5 và 8.8 đối với lao động khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Nội dung chương hai đi sâu vào phân tích thực trạng sinh động và các đặc điểm việc làm của lực lượng lao động phi chính thức nhằm cô đọng lại những khó khăn mang tính chiến lược. Số liệu thống kê tính đến quý 3/2023 ghi nhận Việt Nam có 20,4 triệu lao động trong khu vực phi chính thức, chiếm 39,0% tổng số lao động có việc làm, và tỷ lệ lao động phi chính thức tính chung trong nền kinh tế duy trì ở mức cao (64,9% trong 9 tháng đầu năm 2023). Nhóm lao động này bộc lộ nhiều đặc điểm đáng chú ý như: xu hướng phi chính thức hóa gia tăng mạnh mẽ ở các nhóm tuổi cao (đặc biệt là lao động nữ cao tuổi); trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật ở mức rất thấp khi có tới 86,4% lao động phi chính thức không có bằng cấp chứng chỉ tính đến quý 3/2023. Lực lượng này tập trung mật độ cao trong các ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, Xây dựng, hoặc làm thuê trong hộ gia đình. Có sự thiên lệch giới rõ rệt khi lao động nữ phi chính thức tập trung đông ở khu vực dịch vụ và nông nghiệp, chủ yếu giữ các vị thế dễ bị tổn thương như tự làm hoặc lao động hộ gia đình không được trả công, trong khi nam giới phân bổ đều hơn và chiếm ưu thế ở các vị thế có thu nhập tốt hơn. Sự hạn chế về chất lượng việc làm thể hiện ở chênh lệch thu nhập bình quân khi thu nhập của nam giới cao gấp 1,59 lần nữ giới vào quý 3/2023; phần lớn lao động có thu nhập bấp bênh từ 1 đến dưới 10 triệu đồng và có đến 17,9% không có thu nhập. Đáng báo động, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội của nhóm này vô cùng thấp (chỉ đạt 0,7% vào quý 3/2023) và có tới 71,3% lao động làm công hưởng lương phi chính thức phải làm việc dựa trên thỏa thuận miệng mà không có hợp đồng lao động bằng văn bản. Về môi trường làm việc, một bộ phận lớn phải làm việc lưu động trên vỉa hè, lề đường, ngoài trời, chịu tác động trực tiếp từ thời tiết và đối mặt rủi ro tai nạn lao động. Mặc dù số vụ tai nạn lao động trong khu vực không có quan hệ lao động có xu hướng giảm trên sổ sách, nhưng thực tế công tác báo cáo, điều tra và lập biên bản ghi nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã còn rất hạn chế, chưa phản ánh đúng thực trạng.
Từ thực trạng trên, báo cáo tổng hợp nhận diện sáu nhóm thách thức, khó khăn cốt lõi cản trở việc hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững. Thứ nhất, trình độ học vấn, kỹ năng và năng suất lao động của khu vực phi chính thức (đặc biệt là lao động nữ) còn rất thấp, làm giảm cơ hội dịch chuyển sang khu vực chính thức. Thứ hai, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội thấp kỷ lục do nhận thức của người dân hạn chế và chính sách chưa đủ sức hấp dẫn, gây hệ lụy lớn cho hệ thống an sinh xã hội khi người lao động gặp rủi ro. Thứ ba, lao động nữ chịu nhiều bất lợi do tập trung ở các công việc có vị thế bấp bênh, đòi hỏi các giải pháp nâng cao tay nghề và hỗ trợ chuyên biệt. Thứ tư, tỷ lệ thiếu việc làm thấp trên bề mặt đã làm mờ đi sự thiếu hụt nghiêm trọng về chất lượng việc làm thực tế như thời gian làm việc quá tải và sự thiếu bao phủ của luật pháp. Thứ năm, điều kiện làm việc của người lao động không được đảm bảo, thường xuyên tiếp xúc với môi trường nguy hiểm ngoài trời. Thứ sáu, công tác bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho khu vực không có quan hệ lao động gặp khó khăn do nguồn lực đầu tư, thông tin tuyên truyền và năng lực điều tra, thống kê từ cấp cơ sở còn quá yếu kém.
Chương 3: đề xuất các giải pháp và hàm ý chính sách liên quan đến lao động trong khu vực phi chính thức nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững số 8.5 và 8.8
Chương cuối của báo cáo đặt các đề xuất giải pháp vào bối cảnh toàn cầu đầy biến động khi tiến độ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc đang bị chậm hoặc không có tiến triển ở nhiều chỉ tiêu, đặt ra thách thức gay gắt cho Việt Nam. Để hóa giải các rào cản và thúc đẩy lộ trình đạt được mục tiêu số 8.5 và 8.8 cho lao động phi chính thức, nhóm nghiên cứu định hình hệ thống giải pháp và hàm ý chính sách tập trung vào việc hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực thực thi. Cần chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực công nghệ cho người lao động, đặc biệt ưu tiên lao động nữ và lao động nông thôn nhằm chuyển dịch họ bền vững sang khu vực chính thức. Song song với đó, Nhà nước cần cải thiện tính hấp dẫn của chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện, tăng cường các gói hỗ trợ tài chính hoặc trợ cấp mức đóng để mở rộng diện bao phủ an sinh. Trong lĩnh vực an toàn lao động, cần đẩy mạnh đầu tư nguồn lực cho công tác thông tin, giáo dục tuyên truyền, huấn luyện an toàn vệ sinh lao động đến các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, đồng thời nâng cao hiệu lực kiểm tra, giám sát và hoàn thiện hệ thống thống kê, điều tra tai nạn lao động từ cấp xã đối với khu vực không có quan hệ lao động. Việc khẩn trương hoàn thiện các dự thảo quy định về bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện sẽ là cơ hội then chốt để bảo vệ tối đa quyền lợi và sức khỏe của người lao động khu vực phi chính thức trong tiến trình phát triển bền vững.
Thành viên đề tài:
Chử Thị Lân, Nguyễn Thanh Vân, Phạm Thùy Dung
Từ khóa:
Phát triển bền vững Việc làm Lao động Khu vực phi chính thức Việt Nam
|
Tên file |
View |
|
20260703161648-1030nvtx202307-nhan-dien-thach-thuc-thuc-hien-muc-tieu-phat-trien-ben.pdf
|
Đăng nhập để xem
|