Đề xuất mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Luyến

Năm đăng ký: 2023

Năm nghiệm thu: 2024

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam có đặc điểm địa hình phần lớn là đồi núi, nơi cư trú chủ yếu của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN). Quán triệt tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về việc thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường và thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững, các chính sách giảm nghèo đã chuyển dịch mạnh mẽ từ hỗ trợ vật chất thụ động sang hỗ trợ có điều kiện thông qua cơ chế ưu đãi về đào tạo nghề và giới thiệu việc làm. Thực tế theo số liệu năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo vùng DTTS&MN vẫn ở mức cao (35,5%), gấp 3,5 lần bình quân cả nước, trong khi tỷ lệ lực lượng lao động qua đào tạo chỉ đạt 6,2%, bằng $1/3$ mức trung bình quốc gia. Chất lượng nguồn nhân lực hạn chế, cơ cấu ngành nghề chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường, cùng với sự tác động mạnh mẽ của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và công nghệ số đã tạo ra những thách thức lớn đối với sinh kế bền vững của đồng bào. Hệ thống văn bản pháp lý từ các Nghị quyết của Quốc hội (Nghị quyết số 88/2019/QH14, Nghị quyết số 120/2020/QH14) đến các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 1719/QĐ-TTg, Quyết định số 2239/QĐ-TTg) đều khẳng định tầm quan trọng chiến lược của việc phát triển giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho lao động vùng DTTS&MN. Do đó, nghiên cứu này mang tính cấp bách nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất các mô hình giáo dục nghề nghiệp gắn kết chặt chẽ với tạo việc làm cho lao động tại chỗ và lao động dịch chuyển trong hai lĩnh vực trọng tâm là nông nghiệp và dịch vụ du lịch tại các địa bàn khảo sát điển hình như Điện Biên, Quảng Nam (Quảng Ngãi) và Sóc Trăng.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng mô hình đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi, để đề xuất mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi và khuyến nghị giải pháp, điều kiện thực hiện.

Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi;

- Phân tích thực trạng một số mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi hiện đang áp dụng tại các địa phương; phân tích thuận lợi, khó khăn, bất cập và nguyên nhân;

- Đề xuất mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi (mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho người lao động tại chỗ và lao động dịch chuyển);

- Khuyến nghị giải pháp áp dụng mô hình và điều kiện thực hiện.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, báo cáo gồm các nội dung chính
sau:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Chương II: Thực trạng mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Chương III. Đề xuất mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho lao động
vùng dân tộc thiểu số và miền núi

4. Nội dung chính của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Nội dung chương này tập trung hệ thống hóa một cách toàn diện các nghiên cứu liên quan tại Việt Nam và thế giới, làm rõ các công trình nghiên cứu về đặc thù dân tộc thiểu số, sinh kế và các bất cập trong việc đáp ứng thị trường lao động của thanh niên vùng cao. Tác giả làm rõ hệ thống khái niệm cốt lõi bao gồm "nghề", "đào tạo nghề", "lao động vùng DTTS&MN", "tạo việc làm" và mối quan hệ hữu cơ giữa chúng, xác định đào tạo nghề gắn với tạo việc làm là quá trình tổ chức dạy và học nhằm trang bị đầy đủ năng lực hành nghề, kết hợp sắp xếp việc làm để mang lại thu nhập ổn định cho người học. Nghiên cứu phân tích sâu sắc các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công của mô hình bao gồm các yếu tố bên trong (như chương trình, phương pháp, người dạy, người học, cơ sở vật chất) và các yếu tố bên ngoài (như phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên, cơ chế chính sách, hệ thống thông tin thị trường). Đồng thời, chương 1 cũng khái quát bài học kinh nghiệm đắt giá từ các quốc gia trên thế giới như mô hình phát triển kinh tế bản địa của Úc, đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ dựa trên du lịch của Thái Lan và chiến lược phân luồng, liên kết doanh nghiệp của Trung Quốc nhằm rút ra những ứng dụng thực tiễn phù hợp cho bối cảnh Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng hệ thống chính sách, pháp luật và các chương trình mục tiêu quốc gia liên quan đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó chỉ ra những thuận lợi cùng những nút thắt bất cập về cơ chế thực thi. Qua việc phân tích dữ liệu thứ cấp và kết quả khảo sát thực địa bằng phương pháp nghiên cứu trường hợp tại 3 tỉnh Điện Biên, Quảng Nam (Quảng Ngãi), Sóc Trăng, bức tranh toàn cảnh về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm lao động - việc làm vùng DTTS&MN được khắc họa rõ nét. Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật ở vùng này rất thấp và có sự chênh lệch lớn so với bình quân cả nước. Đặc biệt, chương này tổng quan và đánh giá cụ thể các mô hình đào tạo nghề đang được áp dụng hiện nay như đào tạo theo đặt hàng ngành du lịch, đào tạo tại doanh nghiệp, hay đào tạo nghề nông nghiệp gắn với sản phẩm đặc trưng vùng núi, qua đó chỉ ra các ưu điểm về kỹ năng thực tế lẫn những hạn chế cố hữu về trang thiết bị, tâm lý người học và mức độ đáp ứng yêu cầu khắc nghiệt từ phía doanh nghiệp sử dụng lao động.

Chương 3: Đề xuất mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Trên cơ sở phân tích bối cảnh toàn cầu hóa và tác động hai chiều của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến cơ cấu việc làm, chương 3 làm rõ các quan điểm định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực bền vững vùng đồng bào DTTS&MN. Dựa trên các nguyên tắc đề xuất mang tính khả thi và phù hợp văn hóa dân tộc tộc người, đề tài chính thức đề xuất cấu trúc hệ thống các mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm tiêu biểu bao gồm: mô hình đào tạo nghề theo Đề án (liên kết đa bên); mô hình đào tạo nghề tại chỗ gắn với việc làm nông nghiệp và phát triển sản phẩm đặc trưng địa phương; mô hình đào tạo nghề gắn với dịch chuyển lao động (lao động di cư); và mô hình đào tạo nghề gắn với du lịch cộng đồng. Cuối cùng, để các mô hình này vận hành hiệu quả và có thể nhân rộng, tác giả đã đưa ra nhóm khuyến nghị giải pháp đồng bộ và các điều kiện thực hiện chi tiết từ việc đổi mới nội dung chương trình học, gắn kết chặt chẽ vai trò của doanh nghiệp, đến việc đảm bảo nguồn vốn tín dụng ưu đãi và nâng cao năng lực cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp vùng khó khăn.

 

Thành viên đề tài:

TS. Nguyễn Thị Thanh Bình-Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp TS. Phạm Thị Hoàn-Viện Khoa học giáo dục nghề nghiệp GS. TS. Trần Trung-Học viện Dân tộc học Việt Nam TS. Phạm Xuân Thu-Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp ThS.NCS. Nguyễn Văn Lĩnh-Hiệu trưởng trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng ThS. Lê Thị Hồng Duyên-Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Điện Biên ThS. Trịnh Ngọc Thu Hà-Trường cao đẳng Hằng Hải Hải Phòng I TS. Trần Xuân Ngọc-Trường cao đẳng nghề Công nghệ cao Hà Nội ThS. Nguyễn Xuân Toàn-Báo Đ

Từ khóa: Đào tạo nghề Mô hình đào tạo Việc làm Lao động Dân tộc thiểu số Miền núi

Tên file View
CB2023-03 Đăng nhập để xem
Nhận diện thách thức thực hiện mục tiêu phát triển bền vững về việc làm (mục tiêu số 8.5 và 8.8) đối với lao động trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm: Chử Thị Lân

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2023

Đề xuất mô hình đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Luyến

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2024

Đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động trong doanh nghiệp thích ứng với sự thay đổi công nghệ trong bối cảnh CMCN lần thứ 4

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Hồng Phong

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2023

Giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Bao Cường

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp giai đoạn 2021 – 2025

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phúc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Phát triển lực lượng lao động kỹ năng số đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Đoàn Thị Yến

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động đến năm 2030

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Hà

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp giai đoạn 2021 – 2025

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phúc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Việc làm trong phát triển kinh tế biển Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Hoàng Nguyên

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2021

Xây dựng hệ thống chỉ số cốt lõi để đo lường, đánh giá hiện trạng an toàn, vệ sinh lao động ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Chử Thị Lân

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2021

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |