Nghiên cứu về tiền lương đủ sống

Chủ nhiệm: Th.s. Nguyễn Huyền Lê

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

Tiền lương đủ sống không phải là vấn đề mới đối với quốc tế nhưng là vấn đề mới đối với Việt Nam. Tuy nhiên, ngay ở quốc tế tiền lương đủ sống cũng chưa đạt được sự thống nhất về khái niệm và phương pháp tính toán, do vậy khả năng áp dụng tương đối ít, chủ yếu ở Anh, Mỹ,… nhưng tiền lương đủ sống vẫn tồn tại và đang có xu hướng phát triển và nhân rộng. Tiền lương đủ sống chưa được nghiên cứu và đề cập đến ở Việt Nam hiện nay, để đảm bảo về tiền lương cho người lao động chúng ta đang chỉ sử dụng công cụ tiền lương tối thiểu. Tuy nhiên, vai trò của tiền lương tối thiểu chỉ đảm bảo một số khía cạnh như chống đói nghèo, chống cùng cực hóa,... và phải dùng luật hóa. Theo xu hướng thế giới, tiền lương đủ sống mang tính khuyến khích, thương lượng sẽ trở thành công cụ hữu hiệu hơn trong đảm bảo cuộc sống của người lao động “đầy đủ”, người sử dụng lao động thể hiện sự quan tâm, chăm lo cho người lao động, phát triển quan hệ lao động hài hòa hơn, tăng năng suất lao động.

Tiền lương đủ sống đang là các phong trào phát triển ở các nước phát triển, cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, sự ảnh hưởng bởi các phong trào tiền lương đủ sống không chỉ ở các quốc gia phát triển mà còn lan rộng và ảnh hưởng đến các quốc gia đang phát triển, tiến lên công nghiệp hóa – những quốc gia đang thu hút đầu tư, sản xuất gia công cho các nhãn hàng ở các quốc gia phát triển như Việt Nam thông qua các cam kết về tiền lương đủ sống thông qua các Tổ chức quốc tế, các tập đoàn/công ty đa quốc gia có chi nhánh, có các doanh nghiệp gia công cho các nhãn hàng. Năm 2016, SAI (tổ chức sáng lập chứng chỉ SA8000) cùng 6 Tổ chức liên minh tiền lương đủ sống toàn cầu đã cùng thống nhất sử dụng phương pháp luận về tiền lương đủ sống của Anker để xác định mức tiền lương đủ sống cho 9 quốc gia (có đơn vị chứng nhận chứng chỉ SA8000), trong đó có Việt Nam.

Trên thực tế, ở Việt Nam, thương lượng tập thể thực sự về tiền lương gần như không diễn ra, đang sử dụng công cụ tiền lương tối thiểu – thông qua thương lượng cấp quốc gia- nhằm đạt được tiền lương cao hơn. Điều này gây áp lực cho việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu. Từ 2009 đến nay, tiền lương tối thiểu được điều chỉnh tăng khá cao, từ đó có thể dẫn đến hạn chế về việc tiếp tục thương lượng tập thể tiền lương ở cấp ngành, cấp doanh nghiệp. Các doanh nghiệp bám sát vào tiền lương tối thiểu để trả lương cơ bản, là mức lương ghi trên hợp đồng lao động làm căn cứ đóng BHXH, vô tình đã biến tiền lương tối thiểu thành tiền lương cơ sở/cơ bản, không đúng bản chất, vai trò của tiền lương tối thiểu, làm hệ thống tiền lương phụ thuộc nhiều vào tiền lương tối thiểu.

Với các lý do đó, việc xem xét tiền lương đủ sống là gì, sự khác biệt giữa tiền lương đủ sống và tiền lương tối thiểu như thế nào và vấn đề này đối với Việt Nam ra sao cần được nghiên cứu.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ tiền lương đủ sống là gì, sự khác biệt so với tiền lương tối thiểu;

Tổng quan phương pháp tiếp cận và phương pháp tính toán tiền lương đủ sống;

Trên cơ sở nghiên cứu đề xuất khả năng áp dụng.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tiền lương đủ sống.

Chương 2: Kinh nghiệm quốc tế và khả năng vận dụng tiền lương đủ sống đối với Việt Nam.

Chương 3: Một số khuyến nghị.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận về tiền lương đủ sống

Đề tài tập trung luận giải hệ thống các khái niệm và học thuyết về tiền lương. Tiền lương được nhìn nhận không chỉ là giá cả sức lao động đơn thuần mà còn là mối quan hệ kinh tế - xã hội, chịu sự chi phối của quy luật cung - cầu và các thỏa thuận tập thể. Đề tài hệ thống hóa các học thuyết tiền lương từ học thuyết tiền lương đủ sống cổ điển đến lý thuyết tiền lương hiệu quả hiện đại, nhấn mạnh vai trò của tiền lương trong việc tái sản xuất sức lao động và tích lũy cho người lao động.

Trọng tâm của chương là định nghĩa về tiền lương đủ sống (Living Wage). Theo Anker (2011), đây là mức thù lao đủ để người lao động và gia đình họ có một cuộc sống cơ bản bền vững, phù hợp với mức độ phát triển kinh tế. Khác với tiền lương tối thiểu mang tính pháp lý cưỡng chế nhằm chống đói nghèo, tiền lương đủ sống mang tính khuyến khích, hướng tới mức sống đàng hoàng, bao gồm các nhu cầu về lương thực thực phẩm (đảm bảo dinh dưỡng theo chuẩn WHO/FAO), nhà ở (an toàn, vệ sinh), y tế, giáo dục và một khoản dự phòng cho các biến cố bất ngờ.

Đề tài cũng phân tích các phương pháp xác định tiền lương đủ sống phổ biến như phương pháp tính toán từ số liệu thực tế (phương pháp gốc) thông qua việc xây dựng "giỏ hàng hóa" và phương pháp phái sinh. Các yếu tố cấu thành tiền lương đủ sống bao gồm: chi phí lương thực thực phẩm, chi phí nhà ở, và chi phí phi lương thực - phi nhà ở (NFNH). Chương này cũng chỉ ra tính chất chủ quan tất yếu trong việc xác định các tiêu chí "thế nào là đủ", do đó sự đồng thuận giữa các bên thông qua thương lượng là yếu tố quyết định.

4.2. Chương 2: Kinh nghiệm quốc tế và khả năng vận dụng tiền lương đủ sống đối với Việt Nam

Chương này tổng kết kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia đi đầu như Anh và Mỹ. Tại Mỹ, phong trào tiền lương đủ sống bắt đầu từ Baltimore (1994) và lan rộng ra hơn 140 đô thị, giúp giảm tỷ lệ bỏ việc và tăng năng suất lao động. Tại Anh, Chính phủ đã luật hóa mức tiền lương đủ sống quốc gia cho lao động trên 25 tuổi từ tháng 4/2016, bên cạnh cơ chế thương lượng tự nguyện cho các nhóm tuổi khác.

Phần quan trọng nhất của chương là việc vận dụng phương pháp luận của Anker để tính toán thử nghiệm mức lương đủ sống cho công nhân ngành may mặc tại Thành phố Hồ Chí Minh (2016). Dựa trên giả định hộ gia đình 4 người (2 người lớn, 2 trẻ em) với 1.78 người lao động, đề tài đã xác định:

  • Chi phí lương thực: 3.774.830 VNĐ/tháng (đảm bảo 2348 kcal/người/ngày và cơ cấu dinh dưỡng bền vững).
  • Chi phí nhà ở: 2.046.800 VNĐ/tháng (nhà thuê 30m2, đủ điện nước, vệ sinh).
  • Chi phí NFNH: 3.943.108 VNĐ/tháng (sau khi điều chỉnh theo thực tế địa phương về y tế, giáo dục, đi lại).
  • Khoản dự phòng (5%): 488.237 VNĐ.

Kết quả: Tổng chi phí đủ sống cho hộ gia đình là 10.252.975 VNĐ/tháng. Mức tiền lương đủ sống (gross) tính toán được là 6.435.864 VNĐ/tháng. So sánh với mức lương hiện hành của công nhân may (5.267.000 VNĐ) và lương tối thiểu Vùng 1 (3.500.000 VNĐ), tiền lương đủ sống cao hơn mức thực trả khoảng 18,1% và cao hơn hẳn mức sàn pháp lý. Việc áp dụng mức lương này được chứng minh mang lại lợi ích "win-win" cho cả doanh nghiệp (giảm chi phí tuyển dụng, tăng uy tín thương hiệu) và người lao động (thoát bẫy nghèo, an tâm công tác).

4.3. Chương 3: Một số khuyến nghị

Trong bối cảnh Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EU FTA) và các cam kết về tiêu chuẩn lao động quốc tế, việc hướng tới tiền lương đủ sống là yêu cầu tất yếu để nâng cao khả năng cạnh tranh đạo đức. Đề tài đưa ra các nhìn nhận và khuyến nghị chính:

  • Khả năng áp dụng: Tiền lương đủ sống hiện nay khả thi nhất đối với các doanh nghiệp FDI, các công ty đa quốc gia (như ví dụ của Unilever) và các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu có chứng chỉ SA8000.
  • Cơ chế thực hiện: Không nên áp đặt bằng mệnh lệnh hành chính mà cần đẩy mạnh thông qua thương lượng tập thể và sự tự nguyện của doanh nghiệp gắn với cải tiến công nghệ và tăng năng suất lao động.
  • Vai trò của Nhà nước và Công đoàn: Nhà nước cần hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu về mức sống và chi phí sinh hoạt minh bạch làm căn cứ thương lượng. Công đoàn cần nâng cao năng lực đàm phán để đưa tiền lương đủ sống vào thỏa ước lao động tập thể.
  • Hướng tiếp cận: Cần lộ trình cụ thể để thu hẹp khoảng cách giữa lương tối thiểu và lương đủ sống, bắt đầu từ các ngành xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày.

 

Thành viên đề tài:

Th.s. Nguyễn T Hương Hiền, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; TS. Trần Sỹ Luận, Viện Khoa học Lao động và Xã hội;Ths. Tống Văn Lai, Vụ Lao động tiền lương; Th.s. Dương Thị Hường, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; Th.s. Trần Thị Diệu, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; CN. Nguyễn Văn Hoàn, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; CN. Trương Q Hoàng Linh, Viện Khoa học Lao động và Xã hội.

Từ khóa: Ngành may mặc; Tiền lương tối thiểu Tiền lương đủ sống Phương pháp luận Anker Ngành may mặc Mức sống bền vững

Tên file View
CB2016- 02 - 05.pdf Đăng nhập để xem
Nghiên cứu đổi mới quản lý nhà nước về tiền lương trong doanh nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Đoàn Thị Yến

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2019

Cơ chế quản lý nhà nước về lao động, tiền lương đối với các loại hình doanh nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: PGS.TS. Nguyễn Bá Ngọc

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2015

Phân hóa giàu nghèo và chính sách phân phối thu nhập

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Lê Ngự Bình

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2016

Nghiên cứu về tiền lương đủ sống

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.s. Nguyễn Huyền Lê

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2017

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |