Nghiên cứu triển khai nội dung lao động và quan hệ lao động trong hiệp định đối tác xuyên thái bình dương và các hiệp định thương mại tự do khác mà Việt Nam tham gia

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Năm đăng ký: 2015

Năm nghiệm thu: 2016

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

Trong những năm qua, Việt Nam đã và đang tích cực hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thông qua việc tham gia đàm phán và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (HĐTMTD) với nhiều đối tác thương mại, mà gần đây nhất là HĐTMTD Việt Nam – EU, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP, HĐTMTD Việt Nam - Liên minh kinh tế Á Âu. Tất cả các HĐTMTD này đều có nội dung lao động và quan hệ lao động, tuy nhiên mức độ cam kết là khác nhau. Nếu như cam kết về lao động và quan hệ lao động trong HĐTMTD với EU và Liên minh kinh tế Á Âu mang tính chất khuyến khích (tức là nếu có tranh chấp phát sinh mà không thể giải quyết được thông qua đối thoại và tham vấn thì cũng không có chế tài) thì cam kết về lao động và quan hệ lao động trong TPP lại mang tính điều kiện (tức là nếu không giải quyết được tranh chấp thông qua đối thoại và tham vấn thì có thể bị trừng phạt thương mại). Bởi vậy, việc xử lý các thách thức đặt ra trong TPP cũng xử lý được những thách thức đặt ra từ các HĐTMTD khác mà Việt Nam tham gia.

Có thể nói trong số các HĐTMTD mà Việt Nam tham gia, TPP là HĐTMTD có yêu cầu về lao động và quan hệ lao động ở mức cao nhất với nhiều yêu cầu khắt khe về sửa đổi pháp luật và thực tiễn về lao động và quan hệ lao động. Việc chuẩn bị thật tốt để đảm bảo tính chủ động của Việt Nam trong quá trình thực hiện những cam kết này trong tương lai có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm hạn chế đến mức tối đa những bất đồng có thể nảy sinh, tránh những kịch bản xấu có thể xảy ra.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài "Nghiên cứu triển khai nội dung lao động và quan hệ lao động trong Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương và các HĐTMTD khác mà Việt Nam tham gia" được thực hiện nhằm đề ra những giải pháp để triển khai các cam kết về lao động và quan hệ lao động của Việt Nam trong các HĐTMTD trên cơ sở phân tích làm rõ nội hàm các cam kết và so sánh điểm khác biệt giữa luật pháp và thực tiễn hiện nay của Việt Nam với các cam kết.

2. Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được nội hàm các cam kết về lao động và quan hệ lao động trong TPP và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU.

- Phân tích được những điểm vênh giữa pháp luật và thực tiễn về lao động và quan hệ lao động của Việt Nam so với các cam kết liên quan trong TPP.

- Đề xuất được các giải pháp tổ chức thực hiện.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận còn có 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về nội dung lao động và quan hệ lao động trong TPP và các Hiệp định thương mại tự do khác.

Chương II: Thực trạng lao động và quan hệ lao động của Việt Nam khi triển khai TPP và các Hiệp định thương mại tự do khác.

Chương III: Khuyến nghị về việc triển khai các cam kết lao động và quan hệ lao động trong TPP và các Hiệp định thương mại tự do khác.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương I: Cơ sở lý luận về nội dung lao động và quan hệ lao động trong TPP và các Hiệp định thương mại tự do khác

Chương I xây dựng nền tảng lý luận toàn diện về nội dung lao động trong các HĐTMTD. Đề tài làm rõ khái niệm HĐTMTD và định nghĩa của ILO về nội dung lao động trong HĐTMTD – là hiệp định có đề cập đến tiêu chuẩn lao động về điều kiện làm việc tối thiểu, quyền người lao động, việc bảo vệ người lao động theo luật quốc gia và khuôn khổ hợp tác/theo dõi. Đề tài phân tích xu hướng tăng mạnh số lượng HĐTMTD có điều khoản lao động: từ 4 hiệp định năm 1995 lên 72/278 hiệp định vào tháng 11/2015, trong đó 40% mang tính điều kiện và 60% mang tính khuyến khích.

Đề tài phân tích chi tiết nội dung lao động trong ba hiệp định mà Việt Nam tham gia. Trong TPP, cam kết được thể hiện qua Chương Lao động (Chương 19) với 15 điều, ràng buộc các nước thành viên phải đảm bảo trong pháp luật và thực tiễn bốn nguyên tắc cơ bản theo Tuyên bố 1998 của ILO: (i) quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể; (ii) xóa bỏ lao động cưỡng bức; (iii) cấm lao động trẻ em; (iv) xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm. Ngoài ra còn có Kế hoạch song phương Việt Nam – Hoa Kỳ quy định chi tiết các cải cách pháp luật và bộ máy mà Việt Nam cần thực hiện. Trong HĐTMTD với EU và EAEU, cam kết lao động được gộp trong Chương Thương mại và Phát triển Bền vững với mức cam kết khuyến khích, không có cơ chế trừng phạt thương mại. Điểm khác biệt cốt lõi là TPP yêu cầu "thông qua và duy trì" trong pháp luật và thực tiễn, trong khi EU/EAEU chỉ yêu cầu "cố gắng đảm bảo" và "nỗ lực hoàn thiện".

Đề tài phân tích sâu các yếu tố chính trị nội bộ Hoa Kỳ tác động đến TPP, đặc biệt là Thỏa thuận lưỡng đảng ngày 10/5/2007 – văn bản quy định bắt buộc phải đưa nội dung lao động vào các HĐTMTD, và Luật về Thẩm quyền thúc đẩy thương mại (TPA). Đề tài cũng rút ra kinh nghiệm quốc tế từ các nước đã ký HĐTMTD với Hoa Kỳ: Morocco, Bahrain, Oman, Peru, Panama và Colombia – cho thấy việc sửa đổi pháp luật lao động là điều kiện tiên quyết để hiệp định được phê chuẩn, không thể tránh khỏi.

5.2. Chương II: Thực trạng lao động và quan hệ lao động của Việt Nam khi triển khai TPP và các Hiệp định thương mại tự do khác

Chương II đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và bộ máy của Việt Nam so với nội hàm các cam kết. Về pháp luật, đề tài xác định 7/8 nội dung cam kết lao động trong TPP đã tương thích cơ bản (thương lượng tập thể, lao động cưỡng bức, lao động trẻ em, phân biệt đối xử, lương tối thiểu, giờ làm việc, an toàn lao động), nhưng mỗi lĩnh vực vẫn cần sửa đổi cụ thể.

Nội dung khó nhất và chưa có tiền lệ là vấn đề tự do liên kết: pháp luật Việt Nam quy định tất cả công đoàn doanh nghiệp phải gia nhập Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (TLĐLĐVN), trong khi ILO và TPP yêu cầu người lao động được tự do thành lập tổ chức mà không bắt buộc phải gia nhập một hệ thống duy nhất. Đề tài chỉ ra hàng loạt điều khoản cần sửa đổi trong Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn 2012, bao gồm: quyền đình công (Điều 212, 213, 215), bảo vệ chống phân biệt đối xử chống công đoàn, vai trò đại diện của công đoàn cấp trên, quyền tự chủ tài chính của tổ chức người lao động và vấn đề lao động gán nợ.

Về bộ máy thiết chế, đề tài xác định ba nhóm vấn đề: đối với 7 lĩnh vực cam kết thông thường, cơ chế nhà nước hiện có đã đủ; đối với lĩnh vực quan hệ lao động, Việt Nam chưa có cơ quan quản lý nhà nước về công đoàn, cần thành lập cơ quan mới; đối với yêu cầu thực thi TPP, cần thành lập Đầu mối liên lạc quốc gia, tham gia Ủy ban Quan chức cấp cao và Hội đồng Lao động TPP. Đề tài cũng nhận định rằng bốn tiêu chuẩn lao động cơ bản theo Tuyên bố ILO 1998 là "luật chơi" quốc tế, đi vào mọi kênh quan hệ đối ngoại, không chỉ riêng TPP; và có thể tiếp cận cải cách bằng cách chuyển từ cơ chế "quản" bằng tổ chức chính trị - xã hội sang cơ chế "quản" bằng cơ quan nhà nước thông qua thủ tục đăng ký và theo dõi hoạt động.

5.3. Chương III: Khuyến nghị về việc triển khai các cam kết lao động và quan hệ lao động trong TPP và các Hiệp định thương mại tự do khác

Chương III đề xuất hệ thống khuyến nghị toàn diện. Đề tài dự báo tác động của TPP từ góc độ lao động: bốn cơ hội gồm tạo thêm việc làm trong các ngành xuất khẩu, cải thiện điều kiện lao động, bảo vệ quyền lợi người lao động tốt hơn và hội nhập quốc tế sâu hơn về lao động; và hai thách thức gồm xuất hiện tổ chức người lao động ngoài hệ thống TLĐLĐVN và yêu cầu cao về năng lực bộ máy nhà nước trong thực thi.

Về sửa đổi pháp luật, đề tài khuyến nghị lựa chọn phương án trung bình – không sửa đổi toàn diện theo 8 công ước ILO (phương án cao, không khả thi về chính trị) cũng không chỉ sửa văn bản dưới luật (phương án thấp, thiếu cơ sở pháp lý), mà chia thành hai nhóm: (1) sửa đổi luật pháp hiện hành với khoảng 12 điểm cần sửa trong BLLĐ, 5 điểm trong nghị định và 11 điều trong Luật Công đoàn; (2) bổ sung quy định mới gồm mười nội dung về tổ chức người lao động ở cấp doanh nghiệp, có thể thực hiện bằng cách thêm chương riêng trong BLLĐ hoặc ban hành Luật Quan hệ lao động.

Về tổ chức bộ máy, đề tài khuyến nghị thành lập Đầu mối liên lạc quốc gia tại Bộ Lao động – TBXH với sáu nhiệm vụ chính: tiếp nhận đơn thư công chúng, điều phối với các cơ quan trong nước và đối tác TPP, hỗ trợ Hội đồng Lao động TPP, thực hiện hợp tác song/đa phương, xử lý tham vấn "tiền tranh chấp" và tham gia Ủy ban Quan chức Cấp cao Việt Nam – Hoa Kỳ. Đặc biệt, đề tài khuyến nghị thành lập Cục Quan hệ Lao động thuộc Bộ Lao động – TBXH với nhiệm vụ nhận đăng ký tổ chức người lao động, bảo vệ quyền thương lượng tập thể và đình công, hỗ trợ hòa giải và trọng tài, quản lý cơ sở dữ liệu quan hệ lao động và đào tạo nâng cao năng lực các chủ thể.

Để ngăn ngừa việc lạm dụng quyền thành lập tổ chức người lao động, đề tài đề xuất bốn nhóm giải pháp đồng bộ: xây dựng hành lang pháp lý chặt chẽ với những "van" và "khóa" kiểm soát; thành lập cơ quan quản lý nhà nước đủ thẩm quyền; TLĐLĐVN đổi mới phương thức hoạt động theo hướng "từ dưới lên" để tạo phong trào công đoàn thực chất; và tranh thủ sự hỗ trợ kỹ thuật của ILO và các tổ chức công đoàn quốc tế.

 

Thành viên đề tài:

Từ khóa: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) hiệp định thương mại tự do quan hệ lao động tiêu chuẩn lao động quốc tế tự do liên kết cam kết lao động Tổ chức Lao động Quốc tế

Tên file View
CB2015-02-03.pdf Đăng nhập để xem
Hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện có hỗ trợ phù hợp từ Ngân sách nhà nước cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS Phạm Trường Giang

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2022

Hoàn thiện mô hình hệ thống giải quyết tranh chấp lao động tập thể trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại thế hệ mới

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phúc

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2020

Đánh giá tác động của Hiệp định CPTPP và EVFTA đến lĩnh vực QHLĐ ở Việt Nam đến năm 2025

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Huy Hưng

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2021

Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội trong khu vực phi chính thức

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Hoàng Bích Hồng

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2016

Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Duy Cường

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2016

Phát triển hệ thống hỗ trợ quan hệ lao động ở Việt Nam giai đoạn 2020 – 2025

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phúc

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2019

Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực tiền lương, lao động và quan hệ lao động

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: CN. Lê Xuân Thành

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2016

Xây dựng và điều chỉnh thiết chế, cơ chế về quan hệ lao động để phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phúc

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2016

Tiền lương tối thiểu theo giờ và áp dụng tiền lương tối thiểu theo giờ ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Ths. Tống Văn Lai

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2019

Đổi mới quản lý nhà nước về quan hệ lao động

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: CN. Lê Xuân Thành

Lĩnh vực: Quan hệ Lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Năm hoàn thành: 2019

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |