Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới thị trường lao động ở Việt Nam

Chủ nhiệm: TS. Đào Quang Vinh

Năm đăng ký: 2018

Năm nghiệm thu: 2019

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là một xu thế tất yếu mang tính toàn cầu và không một quốc gia, khu vực nào có thể đứng ngoài. Tuy nhiên, ở nước ta, nhiều nơi, nhiều doanh nghiệp, người lao động nhận thức về CMCN4.0 và những chuẩn bị để thích ứng với xu thế của CMCN4.0 chưa thực sự đầy đủ. Cuộc CMCN4.0, theo quan điểm của K.Schwab, chủ tịch Diễn đàn Kinh tế thế giới, là sẽ dẫn tới những thay đổi mạnh mẽ về mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội của con người với tốc độ và mức độ không lường được, đặc biệt là sự thay đổi về cách thức con người tiến hành sản xuất ra các sản phẩm/dịch vụ phục vụ nhu cầu của con người. Theo đó, sẽ có những ngành/nghề bị tác động tiêu cực, hoặc thậm chí là biến mất, song cũng sẽ có những ngành/nghề mới xuất hiện và phát triển. Do vậy, các kỹ năng nghề nghiệp của người lao động, cách thức tương tác giữa Cung-Cầu lao động (người lao động-người sử dụng lao động)… đòi hỏi cũng phải thay đổi theo, dẫn tới sự thay đổi (để thích ứng với tình hình mới) tất yếu của hệ thống giáo dục đào tạo, cơ sở hạ tầng thị trường lao động và chính sách thị trường lao động. Vì vậy, nghiên cứu nhằm tìm hiểu xu hướng, mức độ và phạm vi tác động của CMCN4.0 tới thị trường lao động nước ta sẽ góp phần giải đáp những câu hỏi về cơ hội và thách thức đối với người lao động, những vấn đề đặt ra đối với hệ thống giáo dục đào tạo, cơ sở hạ tầng để bảo đảm cho thị trường lao động hoạt động hiệu quả.

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, chủ yếu là ngoài nước đề cập tới chủ đề CMCN4.0 và tác động đến thị trường lao động. Các nghiên cứu này đều đi đến thống nhất rằng CMCN4.0 sẽ tác động mãnh mẽ, toàn diện trên các khía cạnh chủ yếu của nền kinh tế mỗi quốc gia như về cấu trúc, trình độ phát triển, tốc độ tăng trưởng, mô hình kinh doanh, và cả thị trường lao động. Trong nước, đã có một số nghiên cứu chỉ ra tác động của CMCN4.0 đến TTLĐ, song nhìn chung các nghiên cứu còn manh mún, chưa toàn diện về tác động của CMCN4.0 tới TTLĐ ở Việt Nam, đặc biệt là về mặt cơ sở lý luận và thực tiễn.

Vì vậy, thực hiện đề tài này là nhằm góp phần làm rõ cơ chế tác động, các kênh tác động và những tác động cụ thể của CMCN4.0 đến TTLĐ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn về nghiên cứu, xem xét đánh giá tác động và quản trị thị trường lao động trong bối cảnh của cuộc CMCN4.0.0 ở Việt Nam hiện nay.

2. Mục tiêu nghiên cứu

a. Mục tiêu chung:

Đánh giá tác động của cuộc CMCN4.0 tới TTLĐ Việt Nam và khuyến nghị các giải pháp chính sách nhằm tận dụng cơ hội và giảm thiểu tác động tiêu cực của CMCN4.0 tới TTLĐ Việt Nam đến 2025.

b. Mục tiêu cụ thể:

- Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa CMCN4.0 và TTLĐ; tổng quan cách tiếp cận và phương pháp đánh giá tác động của CMCN4.0 tới TTLĐ Việt Nam.

- Đánh giá tác động của CMCN4.0 đến TTLĐ ở Việt Nam;

- Đề xuất những giải pháp về chính sách nhằm tận dụng cơ hội và giảm thiểu tác động tiêu cực của CMCN4.0 tới TTLĐ Việt Nam đến 2025.

3. Kết cấu của đề tài

Báo cáo tổng hợp của Đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận, phương pháp luận về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến thị trường lao động

Chương II: Đánh giá tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới thị trường lao động việt nam

Chương III: Giải pháp phát triển thị trường lao động trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

4. Nội dung chính của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận, phương pháp luận về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến thị trường lao động. Chương này xây dựng hệ thống khái niệm cơ bản về CMCN4.0, thị trường lao động với các thành tố cung, cầu, giá cả, thể chế, và khái niệm kỹ năng nghề nghiệp. Bản chất của CMCN4.0 được định hình qua các đặc trưng lớn như tư liệu sản xuất chuyển từ vật chất sang phi vật chất (dữ liệu, thông tin là nguyên liệu giá trị nhất); phương thức sản xuất mới dựa trên dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và Internet vạn vật; phát triển sản xuất thông minh; cá thể hóa sản phẩm trong dây chuyền sản xuất hàng loạt và sự tích hợp sâu sắc giữa con người - máy móc. Cuộc cách mạng này đóng vai trò thúc đẩy cạnh tranh, thay đổi chuỗi giá trị và phương thức sản xuất của nền kinh tế, từ đó dịch chuyển mô hình tăng trưởng vĩ mô, đòi hỏi sự thay đổi nhận thức, năng lực thích ứng của cả doanh nghiệp lẫn người lao động. Trong mối quan hệ với TTLĐ, CMCN4.0 vừa khởi tạo, chuyển đổi việc làm nhưng cũng gây nguy cơ mất việc do tự động hóa; đặt ra yêu cầu mới về mô hình năng lực (kỹ năng kỹ thuật, nhận thức, xã hội, hành vi); thúc đẩy kết nối cung - cầu qua dịch vụ việc làm công nhưng làm tăng dòng di cư và phân hóa thu nhập; đồng thời khiến quan hệ lao động phi truyền thống trở nên phức tạp. Về mặt phương pháp luận, do hạn chế kinh phí và nguồn số liệu thứ cấp không tách biệt được trình độ công nghệ 4.0, đề tài không áp dụng định lượng mà chọn các phương pháp định tính gồm SWOT (kết hợp công cụ USED để khai thác điểm mạnh, cơ hội, khắc phục điểm yếu, thách thức) và phân tích KAP (đo lường hiểu biết, thái độ, hành vi của các bên). Qua nghiên cứu kinh nghiệm các nước OECD, bài học rút ra cho Việt Nam là cần tích hợp đồng bộ các chính sách việc làm, kỹ năng, kinh tế và đổi mới sáng tạo; cải cách TTLĐ theo hướng An ninh - Linh hoạt; ứng dụng công nghệ trong quản trị và định hình mô hình năng lực mới cho người lao động.

Chương 2: Đánh giá tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới thị trường lao động Việt Nam. Tập trung phân tích thực trạng dựa trên bối cảnh kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2019 với mức tăng trưởng khá (6,4%/năm) nhưng năng suất và nền tảng sản xuất còn yếu so với khu vực. Xu hướng TTLĐ giai đoạn này cho thấy quy mô lực lượng lao động tăng nhưng chất lượng tăng chậm; nền kinh tế duy trì khả năng tạo việc làm cao; cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực khi giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp và lao động giản đơn; tuy nhiên bất bình đẳng giới còn phổ biến và hiệu quả thực thi pháp luật lao động còn hạn chế. Về mức độ lan tỏa, nhận thức về CMCN4.0 đã bắt đầu chuyển thành hành động dù công nghệ 4.0 nhìn chung chưa phổ biến, phần lớn doanh nghiệp chỉ dừng lại ở ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản, có tới 85% doanh nghiệp công nghiệp chưa chuẩn bị và nông nghiệp chưa có mô hình 4.0 hoàn chỉnh. Sự chuẩn bị của các địa phương chủ yếu là lồng ghép vào kế hoạch chung; các trường đại học, cao đẳng đã bước đầu đổi mới phương pháp tuyển dụng giảng viên, nội dung giảng dạy tập trung vào kỹ năng và đầu tư nghiên cứu; các doanh nghiệp lớn liên tục đổi mới thiết bị còn khối doanh nghiệp nhỏ và vừa thay đổi không đáng kể. Đánh giá tác động cụ thể chỉ ra rằng, trong ngắn hạn và dài hạn, các doanh nghiệp công nghệ, khởi nghiệp xuất hiện nhiều hơn nhưng khối doanh nghiệp nhỏ sẽ gặp nguy cơ đóng cửa do kém cạnh tranh. CMCN4.0 chưa làm thay đổi lớn quy mô cơ cấu việc làm tổng thể nhưng thúc đẩy xu hướng giảm lao động chưa đào tạo, tăng nhu cầu lao động kỹ thuật cao trong ngành chế biến thực phẩm, dệt may; đồng thời xuất hiện các hình thức việc làm phi tiêu chuẩn dựa trên nền tảng, không gian ảo và thị trường lao động phi biên giới. Quá trình tuyển dụng dịch chuyển sang mạng xã hội, ứng dụng công nghệ sàng lọc kỹ và tiêu chí bằng cấp không còn được ưu tiên. Nhu cầu kỹ năng chuyển dịch mạnh sang tư duy phân tích, sáng tạo, phản biện, lập trình, tự học và các kỹ năng phức tạp như trí tuệ cảm xúc, quản lý con người. Đáng chú ý, quan hệ lao động và tiền lương bị tác động sâu sắc khi xuất hiện các hình thức liên kết ảo, tổ chức ảo của người lao động trên mạng xã hội tác động thật đến việc đòi quyền lợi, đối thoại số và tranh chấp trong không gian ảo, cùng với sự phân hóa tiền lương rõ rệt trong các ngành công nghệ thông tin hoặc nông nghiệp công nghệ cao.

Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường lao động trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh quốc tế và trong nước đến năm 2025 hướng mạnh về kinh tế số, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2025 có ít nhất 20% doanh nghiệp ứng dụng công nghệ 4.0, nâng cao chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu và dự báo nhu cầu nhân lực kỹ sư, công nghệ tăng mạnh trong khi việc làm hành chính, thư ký bị thu hẹp. Quan điểm phát triển cốt lõi là chủ động tham gia CMCN4.0, đổi mới tư duy quản lý nhà nước theo cách tiếp cận mở, cho thí điểm cái mới, và xác định nguồn nhân lực là yếu tố quyết định. Hệ thống giải pháp đồng bộ được đề tài kiến nghị bao gồm năm nhóm chính. Nhóm giải pháp về thể chế và kết nối cung - cầu đề xuất đổi mới quản trị TTLĐ theo mô hình An ninh linh hoạt (flexicurity) của Đan Mạch với bốn cấu phần kết hợp bảo vệ lao động và tính linh hoạt, đồng thời ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data) vào dự báo và nâng cấp hạ tầng dịch vụ việc làm. Nhóm giải pháp về phát triển việc làm hướng tới đảm bảo việc làm thỏa đáng, tạo cơ chế pháp lý tài chính thúc đẩy các ngành công nghệ, số hóa, dịch vụ chất lượng cao, hỗ trợ đào tạo lại ở ngành thâm dụng lao động để giảm sa thải và thúc đẩy chính thức hóa khu vực phi chính thức. Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực và đào tạo kỹ năng tập trung đổi mới nội dung giáo dục, tăng cường đào tạo năng lực thực hành, kỹ năng cốt lõi, đưa kỹ năng số vào phổ thông, tăng thời lượng môn học STEM, và áp dụng mô hình liên kết ba "nhà" để sinh viên học tập trong môi trường thực tế. Nhóm giải pháp về tiền lương và quan hệ lao động kiến nghị hoàn thiện chính sách tiền lương theo nguyên tắc thị trường, xác định rõ mức lương trong tổng thu nhập để đảm bảo đóng an sinh xã hội, hoàn thiện pháp luật đối với việc làm nền tảng, kinh tế chia sẻ và tăng cường vai trò quản lý, hỗ trợ thúc đẩy quan hệ lao động của nhà nước. Nhóm giải pháp về an sinh xã hội tập trung đổi mới tuyên truyền BHXH, BHTN, nghiên cứu chuyển đổi sang mô hình BHXH đa tầng, kết nối bảo hiểm thất nghiệp với bảo hiểm bắt buộc để duy trì việc làm, nâng cao hiệu quả thanh tra xử lý trục lợi, và ban hành các chính sách bảo vệ, hỗ trợ tạo việc làm riêng biệt cho các nhóm lao động yếu thế, dễ bị tổn thương trước tác động của công nghệ.

 

Thành viên đề tài:

TS. Nguyễn Trung Hưng, Viện KHLĐXH, Bộ LĐTB&XH PGS.TS. Nguyễn Bá Ngọc, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH Ths. Lưu Quang Tuấn, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH PGS.TS. Mạc Văn Tiến, Chuyên gia, Bộ LĐ-TB&XH TS. Nguyễn Duy Phúc, Cục QHLĐ&TL, Bộ LĐ-TB&XH Ths. Nguyễn Quang Việt, Viện NC Khoa học Dạy nghề, Tổng Cục Giáo dục nghề nghiệp Ths. Nguyễn Thế Hà, Trung tâm QG Dịch vụ Việc làm, Cục Việc làm Ths. Lê Thu Huyền, Viện KHLĐXH, Bộ LĐTB&XH.

Từ khóa: Cách mạng công nghiệp Thị trường lao động Việt Nam

Tên file View
CT2018-01-01 Đăng nhập để xem
Đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động trong doanh nghiệp thích ứng với sự thay đổi công nghệ trong bối cảnh CMCN lần thứ 4

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Hồng Phong

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2023

Giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Bao Cường

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp giai đoạn 2021 – 2025

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phúc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Phát triển lực lượng lao động kỹ năng số đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Đoàn Thị Yến

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động đến năm 2030

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Hà

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp giai đoạn 2021 – 2025

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Duy Phúc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2022

Việc làm trong phát triển kinh tế biển Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Hoàng Nguyên

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2021

Xây dựng hệ thống chỉ số cốt lõi để đo lường, đánh giá hiện trạng an toàn, vệ sinh lao động ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Chử Thị Lân

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2021

Đánh giá tác động định lượng của Hiệp định CPTPP và EVFTA lên vấn đề lao động và việc làm đến năm 2025

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: TS. Phạm Ngọc Toàn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp cải thiện việc làm thâm dụng tri thức ở việt nam đến năm 2025

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Ths.Ngô Xuân Liễu

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2021

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |