Cơ chế quản lý nhà nước về lao động, tiền lương đối với các loại hình doanh nghiệp
Chủ nhiệm:
PGS.TS. Nguyễn Bá Ngọc
Năm đăng ký:
2015
Năm nghiệm thu:
2016
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
Cơ chế theo nghĩa là nguyên tắc vận hành và cách thức tổ chức của hệ thống. Cơ chế quản lý nhà nước về lao động, tiền lương đối với các loại hình doanh nghiệp là một phạm trù rất rộng, bao hàm quản lý của Nhà nước theo nguyên tắc vận hành và cách thức tổ chức đối với doanh nghiệp về những vấn đề tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, đánh giá, tiền lương, thu nhập, đãi ngộ. Do vậy, theo kết luận của Hội đồng khoa học Bộ tại cuộc họp ngày 19/9/2014, Ban chủ nhiệm đề tài chỉ tập trung nghiên cứu cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương đối với các loại hình doanh nghiệp.
Cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp là nguyên tắc vận hành và cách thức tổ chức tiền lương của hệ thống quản lý tiền lương để đảm bảo thực hiện được các mục tiêu công bằng và phát triển xã hội, nâng cao năng suất và tính cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời trả đúng giá trị đóng góp của người lao động và kích thích lao động sáng tạo ra nhiều giá trị mới. Như vậy, thuật ngữ cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương đối với các loại hình doanh nghiệp nhấn mạnh đến nguyên tắc vận hành và cách thức tổ chức và quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp- một dạng thức của quản lý vĩ mô.
Trong bối cảnh hội nhập, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp phải được xây dựng theo một cơ chế phù hợp, một mặt phải có một hệ thống luật pháp chính sách đảm bảo theo nguyên tắc thị trường, tương thích với các điều ước, công ước, các hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia ký kết; mặt khác phải tạo sự chủ động cho doanh nghiệp tổ chức sản xuất và cạnh tranh; đồng thời tạo điều kiện để hài hòa giữa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động, tạo cơ hội để người lao động được học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, tạo niềm tin, động lực để người lao động yên tâm công tác, gắn bó với doanh nghiệp, đóng góp trí tuệ, sức lao động vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Trong thực tiễn, cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương đối với các loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện nay chưa quản lý được các nội dung quan trọng về tiền lương cả về nguyên lý vận hành (xác lập tiền lương tối thiểu, thúc đẩy thương lượng về tiền lương, công khai minh bạch công bằng trong trả lương) và cách thức tổ chức (cơ chế tạo nguồn, cơ chế phân phối và kiểm tra, giám sát đối với DNNN và cơ chế để đảm bảo trả "trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn" đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước).
2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu tổng quát: Đề xuất đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương đối với các loại hình doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tiền lương, hiệu quả sản xuất kinh doanh và có được nguồn nhân lực năng động và cạnh tranh.
b. Mục tiêu cụ thể:
- Đổi mới nguyên tắc vận hành quản lý nhà nước về tiền lương đối với doanh nghiệp;
- Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước;
- Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Báo cáo tổng hợp gồm 3 Chương :
Chương 1 . Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương đối với các loại hình doanh nghiệp
Chương 2. Thực trạng cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương đối với các loại hình doanh nghiệp
Chương 3 . Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương đối với các loại hình doanh nghiệp.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương đối với các loại hình doanh nghiệp
Hệ thống hóa cơ sở lý luận: Đề tài đi sâu phân tích nội hàm của các khái niệm "cơ chế", "quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp" và "cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương". Cơ chế bao gồm mặt bên trong là nguyên lý vận hành và mặt bên ngoài là cách thức tổ chức. Quản lý nhà nước về tiền lương là việc Chính phủ ban hành, tổ chức và kiểm soát hệ thống chính sách tiền lương phù hợp với quy luật thị trường (cung - cầu, cạnh tranh).
Nội dung đổi mới: Đổi mới nguyên tắc vận hành nhấn mạnh việc Nhà nước xác định mức lương tối thiểu linh hoạt làm căn cứ thương lượng; thúc đẩy thương lượng tập thể nhằm đạt kết cục "Thắng - Thắng" để tăng năng suất; và thực hiện trả lương công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử. Đổi mới cách thức tổ chức tiền lương quy định rõ: đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước, Nhà nước chỉ tạo khung pháp lý và kiểm tra, doanh nghiệp tự chủ hoàn toàn; đối với doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước hướng dẫn cơ chế tạo nguồn, phân phối gắn với năng suất, lợi nhuận.
Nhân tố tác động và kinh nghiệm quốc tế: Đề tài phân tích 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng (Khung pháp lý, Môi trường kinh doanh, Nhân tố doanh nghiệp, và Nhân tố người lao động). Đồng thời, đúc kết bài học từ Trung Quốc (hệ thống hướng dẫn tiền lương, kiểm soát tài sản nhà nước), Singapore (vai trò của Hội đồng Tiền lương Quốc gia) và Hàn Quốc để đề xuất hướng hoàn thiện chính sách, hạn chế can thiệp hành chính sâu vào doanh nghiệp.
4.2. Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương đối với các loại hình doanh nghiệp
Thực trạng nguyên tắc vận hành:
Tiền lương tối thiểu: Giai đoạn 2011-2016, tiền lương tối thiểu vùng đã được điều chỉnh tăng liên tục, hợp nhất áp dụng cho cả doanh nghiệp trong nước và FDI. Tuy nhiên, mức lương này mới đáp ứng được khoảng 80% nhu cầu tối thiểu, gây áp lực chi phí cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt trong các ngành thâm dụng lao động như dệt may.
Thương lượng và minh bạch tiền lương: Đa số doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện đối thoại và thương lượng mang tính hình thức. Tỷ lệ thành lập công đoàn cơ sở còn rất thấp (DN ngoài nhà nước chỉ đạt 21,26%), dẫn đến việc thỏa ước lao động tập thể chủ yếu là sao chép luật định. Việc công khai thang bảng lương, định mức lao động ít được tuân thủ, với khoảng cách thu nhập quá lớn giữa lao động quản lý và lao động giản đơn (tại DN FDI lên đến 8,67 lần).
Thực trạng cơ chế quản lý theo loại hình:
Doanh nghiệp ngoài nhà nước: Lực lượng thanh tra lao động quá mỏng, chế tài xử phạt còn nhẹ (tối đa 75 triệu đồng). Nhiều sai phạm phổ biến diễn ra như không trả lương làm thêm giờ, không trả lương ngừng việc, nợ lương và trốn đóng bảo hiểm xã hội.
Doanh nghiệp nhà nước: Việc xác định quỹ lương kế hoạch dựa trên kết quả năm trước làm chậm trễ quá trình chi trả. Vẫn tồn tại bất cập khi tốc độ tăng lương cao hơn tốc độ tăng năng suất và lợi nhuận. Công tác thanh tra phát hiện nhiều đơn vị vi phạm, lấy quỹ tiền lương của người lao động để chi trả sai quy định cho viên chức quản lý cấp cao.
4.3. Chương 3: Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương đối với các loại hình doanh nghiệp
Dựa trên phân tích bối cảnh hội nhập TPP, FTA và những thách thức thị trường, đề tài đề xuất 4 nhóm giải pháp:
Đổi mới chính sách tiền lương tối thiểu: Sửa đổi khái niệm theo hướng chỉ "bảo đảm chi phí sinh hoạt tối thiểu"; tiến tới bổ sung quy định tiền lương tối thiểu theo ngày, giờ; hoàn thiện Hội đồng Tiền lương quốc gia bằng cách mở rộng thành viên; và xây dựng Luật Tiền lương tối thiểu để tạo khung pháp lý đồng bộ.
Thúc đẩy thương lượng tập thể: Nâng cao năng lực đại diện cho công đoàn cơ sở; quy định bắt buộc các điều khoản cụ thể trong thỏa ước; phát huy mạnh mẽ cơ chế 3 bên (Nhà nước - Chủ sử dụng lao động - Người lao động). Đề tài cũng cung cấp hướng dẫn mẫu về quy trình, kỹ năng chuẩn bị và đàm phán trong thương lượng tiền lương.
Đổi mới quản lý đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước: Áp dụng triệt để nguyên tắc thị trường, tăng cường thông tin giá cả sức lao động. Nâng cao hiệu quả kiểm tra, thanh tra thông qua việc phân cấp mạnh cho địa phương và thiết lập các chế tài xử phạt nghiêm khắc đủ sức răn đe.
Đổi mới quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước: Phân tách rõ ràng chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu. Thực hiện cơ chế ký hợp đồng thuê giám đốc điều hành với mức lương cạnh tranh trên thị trường; gắn chặt quỹ lương khối quản lý với tỷ suất lợi nhuận và hiệu quả bảo toàn vốn. Đề xuất sớm thành lập cơ quan quản lý vốn nhà nước độc lập để kiểm soát minh bạch việc phân phối và trả lương.
Thành viên đề tài:
TS. Trần Sỹ Luận, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; ThS. Dương Thị Hường, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; ThS. Nguyễn Thị Hương Hiền, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; ThS. Trần Thị Diệu, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; CN. Phạm Huy Tú, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; ThS. Nguyễn Tiến Đăng, Vụ Lao động - Tiền lương (Bộ LĐ-TB&XH); ThS. Nguyễn Huy Hưng, Trung tâm Hỗ trợ Phát triển quan hệ lao động.
Từ khóa:
Tiền lương tối thiểu Các loại hình doanh nghiệp Doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp ngoài nhà nước Lao động Tiền lương Cơ chế quản lý nhà nước