Xây dựng mô hình giáo dục hướng nghiệp ở các trường dạy nghề trong bối cảnh đổi mới giáo dục, dạy nghề
Chủ nhiệm:
TS. Nguyên Thi Hăng
Năm đăng ký:
2015
Năm nghiệm thu:
2016
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
Nghị quyết của Đại hội XI khẳng định rằng: "Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập và tạo điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời".
Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế đã xác định mục tiêu tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đồng thời định hướng "Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông", làm xuất hiện nhiệm vụ mới của công tác GDHN.
Quyết định số 126/CP của Chính phủ năm 1981 về công tác HN trong trường phổ thông chỉ xác định nhiệm vụ GDHN ở trường phổ thông, trong khi GDHN tại các trường dạy nghề ngày càng tỏ ra là cần thiết. GDHN ở trường dạy nghề được triển khai từ năm 1998 đến năm 2004 trong 15 trường nghề trọng điểm thuộc dự án GDKT&DN. Song, cho đến nay GDHN ở trường dạy nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa được các cấp quan tâm đúng mức, đã tác động đến quá trình học tập và hành nghề của HS sau khi tốt nghiệp.
Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 và Luật Giáo dục nghề nghiệp đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác tư vấn, hướng nghiệp trong nhà trường. Tuy nhiên, hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề hiện nay chưa được coi trọng đúng mức, chưa xác định rõ được mô hình GDHN phù hợp.
Từ thực tế trên, đề tài đã quyết định chọn vấn đề "Xây dựng mô hình giáo dục hướng nghiệp ở các trường dạy nghề trong bối cảnh đổi mới giáo dục, dạy nghề" làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, đề tài đề xuất mô hình GDHN trong các trường dạy nghề nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo đáp ứng những yêu cầu về nhân lực của TTLĐ trong nước, phù hợp với bối cảnh đổi mới giáo dục, dạy nghề.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của đề tài được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng mô hình giáo dục hướng nghiệp ở các trường dạy nghề.
Chương 2: Thực trạng về mô hình giáo dục hướng nghiệp ở các trường dạy nghề.
Chương 3: Mô hình giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1Chương 1: Cơ sở lý luận về mô hình giáo dục hướng nghiệp ở các trường dạy nghề
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận cho đề tài thông qua việc tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước, hệ thống hóa các khái niệm cơ bản và phân tích đặc thù của GDHN trong trường dạy nghề.
Về tổng quan nghiên cứu vấn đề, đề tài ghi nhận rằng GDHN đã được đề cập từ giữa thế kỷ XIX ở nhiều quốc gia, với các mô hình lý thuyết đa dạng từ các tác giả như Michel Huteau, Linda Gottfredson, Bernadette Dumora, Frank Parson... Tại Việt Nam, công tác HN trong trường dạy nghề được triển khai từ năm 1998-2004 theo các dự án của Chính phủ, nhưng chưa có công trình nào đề cập đến mô hình GDHN ở các trường dạy nghề trong bối cảnh đổi mới giáo dục một cách hệ thống.
Về các khái niệm cơ bản, đề tài làm rõ: dạy nghề là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng, thái độ đối với nghề để người học có trình độ nhất định, có thể tìm được việc làm sau khi hoàn thành khóa học; trường dạy nghề là cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo theo ba cấp trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng; nghề là dạng hoạt động lao động xác định trong hệ thống phân công lao động xã hội. Đề tài phân tích quy trình chọn nghề và các nguyên tắc chọn nghề đảm bảo sự phù hợp giữa yêu cầu nghề và đặc điểm tâm lý người học.
Đề tài tiếp cận mô hình lý thuyết cây hướng nghiệp, theo đó sở thích, khả năng, cá tính và giá trị nghề nghiệp của mỗi người đóng vai trò "rễ" quyết định sự thành công trong nghề. GDHN trong trường dạy nghề phải giúp HS nhận thức đầy đủ về bản thân để chọn nghề phù hợp với "rễ", tránh chọn nghề theo cảm tính hay trào lưu. Hướng nghiệp trong trường dạy nghề được hiểu là quá trình liên tục giúp đỡ suốt cuộc đời để người học thực hiện được dự án nghề nghiệp của mình.
Về đặc điểm GDHN trong trường dạy nghề, đề tài chỉ ra sự khác biệt căn bản: GDHN ở trường dạy nghề là HN "cho mình" (hướng vào thích ứng nghề cụ thể) trong khi GDHN ở trường phổ thông là HN "cho người" (định hướng tổng quát). Mô hình GDHN trong trường dạy nghề bao gồm ba giai đoạn liên tục: GDHN trước đào tạo, GDHN trong quá trình đào tạo và GDHN sau đào tạo. Các thành tố cấu thành mô hình gồm: mục tiêu GDHN (nâng cao chất lượng đào tạo, thích ứng nghề), công cụ HN (chủ trương chính sách, văn bản pháp quy, chiến lược phát triển, bộ máy tổ chức, trang thiết bị phòng HN) và nội dung HN (tư vấn nghề, tuyển chọn nghề, thích ứng nghề).
Ngoài ra, đề tài cũng tổng kết kinh nghiệm một số quốc gia (Pháp, Đài Loan, Indonesia, Thái Lan, Mỹ, Úc, Đức), rút ra bài học: mô hình GDHN phải gắn với thị trường lao động, đảm bảo liên tục từ khâu tuyển sinh đến kết thúc quá trình đào tạo và hướng tới mục tiêu phát triển nhân lực quốc gia.
4.2 Chương 2: Thực trạng về mô hình giáo dục hướng nghiệp ở các trường dạy nghề
Chương 2 đánh giá thực trạng mô hình GDHN trong các trường dạy nghề trên cơ sở khảo sát 90 cán bộ quản lý, 165 giáo viên và 550 học sinh thuộc 7 trường cao đẳng nghề trên cả ba miền Bắc – Trung – Nam.
Về thực trạng nhận thức, kết quả điều tra cho thấy trên 80% cán bộ quản lý, GV biết rõ HN trước đào tạo, nhưng trên 70% không rõ lắm về HN trong và sau quá trình đào tạo. Đặc biệt, trên 80% không hiểu rõ HN trong trường dạy nghề là hệ thống gồm cả ba giai đoạn trước – trong – sau đào tạo. Về phía HS, chỉ có 42% quan tâm đến GDHN, hơn 50% chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của HN trong quá trình học nghề.
Về thực trạng triển khai, kết quả cho thấy bức tranh đáng lo ngại: (1) HN trước đào tạo: 52% cán bộ, GV đánh giá ở mức yếu; 100% không thường xuyên tổ chức; 60% HS chưa được nhà trường tổ chức HN trước đào tạo. (2) HN trong đào tạo: 31% đánh giá ở mức yếu, 49% ở mức trung bình; trên 60% HS hầu như không được tổ chức HN trong đào tạo. (3) HN sau đào tạo: 65% cán bộ, GV đánh giá ở mức yếu; 80% HS không được GDHN sau đào tạo. Đặc biệt, 100% xác nhận các trường dạy nghề chưa vận dụng mô hình trong GDHN.
Đánh giá chung, chương 2 chỉ ra những ưu điểm (đã hình thành bước đầu mô hình GDHN trong giai đoạn 1999-2004, đã giảm tỷ lệ bỏ học) và khuyết điểm nổi bật (chưa thực hiện đồng bộ, thiếu cơ chế quản lý rõ ràng, cơ sở vật chất thiếu thốn, nhân lực HN yếu kém, chưa có mô hình phù hợp). Kết luận chương 2 khẳng định cần thiết phải xây dựng mô hình GDHN mới và các giải pháp triển khai phù hợp.
4.3 Chương 3: Mô hình giáo dục hướng nghiệp ở các trường dạy nghề trong bối cảnh đổi mới giáo dục, dạy nghề
Chương 3 là trọng tâm của đề tài, đề xuất mô hình GDHN mới và năm giải pháp triển khai, đồng thời trình bày kết quả kiểm nghiệm đánh giá.
Về định hướng phát triển, chương 3 phân tích các yếu tố tác động đến đổi mới GDHN: kinh tế thị trường định hướng XHCN (đòi hỏi hệ thống đào tạo năng động, gắn với quy luật cung – cầu); hội nhập quốc tế (công nhận tương đương bằng cấp và lao động kỹ thuật trong khu vực ASEAN, WTO); và yêu cầu của Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục.
Mô hình GDHN được đề xuất theo nguyên tắc đảm bảo tính lô-gic, đồng bộ, hệ thống, hiệu quả, khả thi và toàn diện. Mô hình gồm ba tầng: (1) GDHN trước đào tạo do Hiệu trưởng chỉ đạo bộ phận HN/ban HN thực hiện, trên cơ sở kết quả phân nghề cho HS; (2) GDHN trong đào tạo do khoa chuyên môn phối hợp các bộ phận chức năng thực hiện; (3) GDHN sau đào tạo do khoa chuyên môn và phòng thực tập sản xuất – Dịch vụ đảm nhiệm, hướng HS tìm việc làm phù hợp theo nghề được đào tạo đáp ứng yêu cầu của TTLĐ.
Năm giải pháp triển khai mô hình được đề xuất:
(1) Nâng cao nhận thức về thực hiện mô hình GDHN cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh, thông qua bồi dưỡng, tuyên truyền và ban hành văn bản chỉ đạo;
(2) Xây dựng phòng hướng nghiệp trong trường dạy nghề gồm ba khu vực (thông tin trường, thông tin nghề và TTLĐ, mô tả nghề) và xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin TTLĐ;
(3) Chỉ đạo thực hiện đồng bộ hoạt động GDHN trước, trong và sau quá trình đào tạo thông qua hệ thống văn bản, phân công nhiệm vụ rõ ràng;
(4) Xây dựng cơ chế phối hợp GDHN bốn bên (Trường dạy nghề – Trường phổ thông – Doanh nghiệp – Tổ chức cung ứng lao động) thông qua hợp đồng phối hợp có giá trị pháp lý;
(5) Tổ chức bồi dưỡng giáo viên về công tác GDHN theo quy trình chuyên biệt.
Đề tài đã tổ chức kiểm nghiệm đánh giá mô hình và các giải pháp bằng hai phương pháp: phương pháp chuyên gia (trưng cầu ý kiến cán bộ quản lý, giáo viên, chuyên gia) và phương pháp thử nghiệm (tại Trường CĐN Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM). Kết quả kiểm nghiệm chuyên gia cho thấy mô hình đề xuất có mức độ cần thiết rất cao, tính khả thi cao và tính hợp lý cao. Kết quả thử nghiệm cho thấy tỷ lệ HS đáp ứng yêu cầu TTLĐ ở lớp thử nghiệm cao hơn rõ rệt so với lớp đối chứng, khẳng định tính hiệu quả của mô hình.
Kết luận và khuyến nghị
Đề tài đã nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận về mô hình GDHN trong trường dạy nghề; đánh giá thực trạng; đề xuất mô hình GDHN phù hợp với bối cảnh đổi mới giáo dục, dạy nghề và đã được kiểm nghiệm thành công. GDHN trong trường dạy nghề phải là hệ thống liên tục trước – trong – sau đào tạo, gắn với TTLĐ và đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực. Đề tài khuyến nghị Bộ LĐTBXH ban hành Quyết định về GDHN trong trường dạy nghề; các trường dạy nghề sớm thành lập Ban GDHN và tăng cường liên kết bốn bên trong tổ chức HN.
Thành viên đề tài:
TS. Bui Văn Hưng, Trường CĐN Kỹ thuật Công nghệ TP. HCM, Thư ký; KS. Phạm Đức Hậu, Trường CĐN Kỹ thuật Công nghệ TP. HCM; TS. Nguyễn Thị Lưỡng, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. HCM; KS. Nguyễn Thị Mỹ Châu, Công ty TNHH kỹ thuậtt Hưng Việt
Từ khóa:
|
Tên file |
View |
|
CB2015-04-02.pdf
|
Đăng nhập để xem
|