Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình hội nhập kinh tế thế giới và phát triển kinh tế thị trường của Việt Nam đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Việc đưa nội dung lao động và quan hệ lao động vào thương mại quốc tế đang nổi lên như là một xu hướng tất yếu của thế giới và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Về lâu dài, Việt Nam cần tạo ra sân chơi bình đẳng hơn, rộng hơn để đón trước sự phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường, bảo vệ quyền con người, quyền công dân được xác định trong Hiến pháp.

Đối với vấn đề lao động và quan hệ lao động, đảm bảo quyền tự do liên kết (có văn bản dịch là tự do hiệp hội) là yếu tố tiên quyết trong việc thực hiện các quyền lao động khác. Đối với Việt Nam, Điều 25 Hiến pháp năm 2013 đảm bảo công dân có quyền hội họp và lập hội. Ngoài ra, Việt Nam đang nghiên cứu khả năng phê chuẩn hai Công ước quan trọng của ILO là Công ước số 87 và Công ước số 98 về Tự do liên kết và Thương lượng tập thể và có thể tham gia TPP với những cam kết về vấn đề lao động và quan hệ lao động được cho là ở mức cao nhất từ trước đến nay.

Không có Công ước quốc tế hay cam kết trong hiệp định thương mại tự do nào về quan hệ lao động yêu cầu trong một quốc gia phải có nhiều hơn một tổ chức đại diện cho người lao động mà việc này tùy thuộc vào sự lựa chọn của người lao động. Như vậy, khi Việt Nam phê chuẩn Công ước số 87 và 98 của ILO hoặc tham gia TPP, Việt Nam cần phải chuẩn bị cho kịch bản có thể có khả năng người lao động lựa chọn thành lập các tổ chức đại diện người lao động mà chưa hoặc không thuộc hệ thống Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam.

Theo cam kết về lao động trong TPP, để được hoạt động, tổ chức đại diện người lao động có thể lựa chọn gia nhập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nếu không gia nhập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam thì tổ chức đại diện người lao động đó không phải là tổ chức chính trị xã hội. Như vậy, phải có cơ quan và cơ chế quản lý nhà nước để quản lý thực thể này. Đây là thực thể mới, chưa từng có trong thể chế chính trị hiện nay. Những vấn đề cần được làm rõ là: thực thể này cần được điều chỉnh ở khuôn khổ luật pháp nào và nội dung điều chỉnh như thế nào; cơ quan nào quản lý việc đăng ký và hoạt động của thực thể này ở cấp Trung ương và cấp địa phương; mối quan hệ giữa thực thể này với các thực thể khác trong xã hội (với nhà nước, với người sử dụng lao động…) như thế nào.

Những câu hỏi trên cho thấy, việc nghiên cứu và chuẩn bị phải được tiến hành sớm để chuẩn bị cho việc tham gia TPP cũng như phê chuẩn hai Công ước số 87 và 98 của ILO để đảm bảo tính chủ động, kịp thời ứng phó với mọi tình huống. Theo đó, cần xây dựng cơ sở pháp lý và hoàn thiện tổ chức bộ máy để chuẩn bị cho việc hình thành và hoạt động hiệu quả của những tổ chức đại diện cho người lao động, đồng thời bảo vệ những tổ chức này khỏi các hành vi phân biệt đối xử của người sử dụng lao động và quản lý những tổ chức này để tránh bị lợi dụng.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài “Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn” được thực hiện với mục tiêu chính là đề xuất được khuôn khổ luật pháp và tổ chức bộ máy để quản lý tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong việc quản lý hệ thống nhiều công đoàn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa về cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động;

- Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hệ thống nhiều công đoàn ở một số nước trên thế giới và rút ra bài học đối với Việt Nam (do ở Việt Nam chưa có tiền lệ);

- Đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động và công đoàn ở Việt Nam;

- Đề xuất được quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, cơ sở pháp lý, điều kiện và lộ trình thực hiện quản lý nhà nước đối với các tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn nhưng chỉ giới hạn ở việc đưa ra khuôn khổ luật pháp và đề xuất tổ chức bộ máy để quản lý thực thể nói trên.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu làm 3 chương:

Chương I: Luận cứ khoa học về quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn.

Chương II: Thực trạng quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động và công đoàn ở Việt Nam.

Chương III: Khuyến nghị quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương I, đề tài luận giải cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Đề tài hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi về quản lý nhà nước, quan hệ lao động, liên kết và tổ chức đại diện của người lao động/công đoàn; làm rõ chủ thể, khách thể, đối tượng và nội dung quản lý nhà nước đối với tổ chức này. Trên cơ sở bối cảnh Việt Nam tham gia Hiệp định TPP, đề tài phân tích sự cần thiết, yêu cầu quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn, các quy định của Công ước số 87, 98 của ILO về quyền tự do liên kết, và tổng hợp kinh nghiệm quốc tế (Singapore, Hoa Kỳ, Indonesia...) về quản lý hệ thống nhiều công đoàn để rút ra bài học cho Việt Nam.

4.2. Chương II, đề tài đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động và công đoàn ở Việt Nam

Đề tài phân tích quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013, so sánh hội, công đoàn thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và tổ chức đại diện ngoài hệ thống này; khảo sát thực tiễn thành lập, hoạt động của công đoàn cơ sở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, chỉ ra thuận lợi (mạng lưới rộng, kinh nghiệm lâu năm) và hạn chế (chịu sự chi phối của người sử dụng lao động ở cấp cơ sở). Từ đó, đề tài xác định mười nhóm nội dung pháp luật cần điều chỉnh (thành lập, đăng ký, tài chính, hoạt động, xử lý tranh chấp...) và đề xuất bộ máy chuyên trách nên đặt tại Cục Quan hệ lao động thuộc Bộ Lao động. Đề tài đánh giá chung: nhà nước cần chủ động điều chỉnh quan hệ giữa công đoàn với người lao động, người sử dụng lao động và các chủ thể chính trị - xã hội để bảo đảm ổn định và quan hệ lao động lành mạnh.

4.3. Chương III, đề tài đề xuất khuyến nghị quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Đề tài dự báo tác động tích cực (bảo đảm quyền hiến định, thúc đẩy hội nhập) và bất lợi (nguy cơ bị lợi dụng chính trị, xung đột lao động) nếu thiếu quản lý hữu hiệu, cùng bốn thách thức về nhận thức, buông lỏng quản lý, thiếu gắn kết giữa các tổ chức công đoàn và nguy cơ bị thế lực đối lập lợi dụng. Trên cơ sở ba nguyên tắc, bốn mục tiêu quản lý, đề tài đề xuất xây dựng khung pháp luật về đăng ký (gọi chung là “nghiệp đoàn”, không xin phép trước theo Công ước 87), quản lý ban lãnh đạo, tài chính minh bạch và hỗ trợ kỹ thuật có kiểm soát; đồng thời kiến nghị đổi mới bộ máy quản lý nhà nước (thành lập Cục Quan hệ lao động và Tiền lương), sửa đổi Bộ luật Lao động, xây dựng cơ sở dữ liệu và nâng cao năng lực cán bộ. Đề tài xác định điều kiện, lộ trình thực hiện, nhấn mạnh cần quyết tâm thống nhất của hệ thống chính trị, sự chủ động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và nguồn lực hỗ trợ quốc tế.

Thành viên đề tài:

Từ khóa: Quản lý nhà nước Tổ chức đại diện người lao động Công đoàn Quan hệ lao động Nghiệp đoàn Tự do liên kết Thương lượng tập thể Hiệp định TPP

Tên file View
CB2016-02-03.pdf Đăng nhập để xem
Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý trường hợp đối với trẻ em cần sự bảo vệ

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Thị Nhung

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Thiết kế và chế tạo hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Hoàng Anh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đề xuất giải pháp thúc đẩy việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Chí Trường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp phát triển đào tạo kỹ năng số cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Nghiên cứu, đề xuất khung chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 -2030

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Quang Việt

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Đánh giá việc triển khai hướng dẫn của ASEAN về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Ths. Lê Ngự Bình

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |