Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Năm đăng ký: 2022

Năm nghiệm thu: 2023

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài
Mở rộng và nâng cao chất lượng chính sách an sinh xã hội (ASXH), nâng cao đời sống, phát triển toàn diện con người luôn là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đã được khẳng định rõ trong Hiến pháp 2013 và Nghị quyết số 15-NQ/TW. Trong những năm qua, lĩnh vực lao động, người có công và xã hội đã có những bước tiến vượt bậc trong việc hoàn thiện luật pháp cũng như tổ chức thực hiện chính sách dành cho người cao tuổi (NCT). Tuy nhiên, Việt Nam hiện đang đối mặt với quá trình già hóa dân số diễn ra vô cùng mạnh mẽ. Đến hết năm 2020, số NCT đã chiếm 11,95% tổng dân số (tương đương 12,81 triệu người) và dự báo đến năm 2038, tỷ lệ này sẽ đạt khoảng 20%, chính thức bước vào giai đoạn dân số già. Trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, xu hướng chuyển đổi nhân khẩu học này đặt ra áp lực lớn cho hệ thống ASXH. Mặc dù tuổi thọ bình quân tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh của người Việt lại thấp, tỷ lệ NCT mắc bệnh mãn tính không lây nhiễm cao và có tới 72,9% NCT sống phụ thuộc, bị suy giảm chức năng. Đáng ngại hơn, khoảng 60% NCT tại Việt Nam hiện không có bất kỳ chế độ trợ cấp hàng tháng hay lương hưu nào từ Nhà nước. Những hạn chế này, kết hợp với các cú sốc từ thiên tai, dịch bệnh (đặc biệt là dịch Covid-19), làm bộc lộ rõ nhiều bất cập của hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội. Do đó, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về ASXH cho NCT là yêu cầu mang tính thời sự, cấp bách để hướng tới phát triển bền vững. 
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung:
- Đánh giá thực trạng chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi làm căn cứ để đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật hướng đến đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số;
- Đánh giá thực trạng chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam, chỉ ra khoảng trống chính sách, bất cập tồn tại và nguyên nhân;
- Phân tích đặc điểm và nhu cầu an sinh xã hội của người cao tuổi Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số;
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1. cơ sở lý luận và thực tiễn về an sinh xã hội cho người cao tuổi trong bối cảnh già hóa.
Chương 2. Đánh giá thực trạng chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số.
Chương 3. Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam
4. Nội dung chính của đề tài
Chương 1. cơ sở lý luận và thực tiễn về an sinh xã hội cho người cao tuổi trong bối cảnh già hóa.
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận vững chắc bằng việc làm rõ các khái niệm cốt lõi liên quan đến người cao tuổi, quyền của người cao tuổi, chính sách công, chính sách xã hội và hệ thống an sinh xã hội. Theo pháp luật Việt Nam, người cao tuổi được xác định là công dân từ đủ 60 tuổi trở lên và hệ thống ASXH cho đối tượng này được cấu thành từ bốn trụ cột chính gồm: chủ động phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro thông qua bảo hiểm, khắc phục hậu quả qua trợ giúp xã hội và bảo đảm tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Trong bối cảnh già hóa dân số - được định nghĩa là khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên đạt từ 10% đến dưới 20% tổng dân số - hệ thống ASXH phải chuyển mình để thích ứng toàn diện trên ba góc độ: đảm bảo thu nhập (hưu trí và lương hưu xã hội), chăm sóc y tế (hệ thống BHYT và chăm sóc dài hạn), cùng với chăm sóc xã hội và phát huy vai trò của NCT tại cộng đồng thông qua việc tạo cơ hội việc làm phù hợp. 
Bên cạnh đó, chương này cũng phân tích sâu sắc các đặc điểm của NCT về nhân khẩu học, sức khỏe, đời sống gia đình và hoạt động kinh tế, đồng thời nêu bật vai trò của ASXH trong việc bảo đảm an ninh thu nhập và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe, tinh thần cho NCT. Nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống này được chỉ ra, bao gồm xu hướng biến đổi cấu trúc gia đình, gánh nặng bệnh tật và nhận thức của xã hội đối với việc thích ứng già hóa. Cuối cùng, thông qua việc tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước, đề tài chỉ ra khoảng trống lớn là chưa có các công trình phân tích sâu sắc tác động qua lại giữa già hóa với phát triển con người, cũng như thiếu giải pháp cốt lõi cho từng chính sách cấu phần. Từ đó, đề tài rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế quý báu từ các nước đi trước như Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc trong việc luật hóa chế độ bảo hiểm chăm sóc dài hạn và phát triển các quỹ phát huy vai trò NCT nhằm giải quyết bài toán an sinh khi bước vào giai đoạn dân số già. 
Chương 2. Đánh giá thực trạng chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số
Chương 2 đi sâu vào phân tích thực trạng dựa trên khung pháp luật quốc tế và hệ thống luật pháp hiện hành của Việt Nam, đặc biệt là Luật Người cao tuổi 2009. Số liệu thực tế giai đoạn 2012-2022 cho thấy tốc độ già hóa dân số tại Việt Nam đang thuộc hàng nhanh nhất thế giới, đẩy nhanh thời gian chuyển đổi từ “già hóa dân số” sang “dân số già”, mang đặc điểm đáng lưu ý là “già ở nhóm già nhất” và tỷ lệ nữ giới cao tuổi chiếm đa số. Khi đánh giá các chính sách ASXH cụ thể, đề tài chỉ ra rằng chính sách đảm bảo thu nhập (lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ giúp xã hội thường xuyên) và chính sách chăm sóc sức khỏe qua BHYT đã có những thành tựu đáng ghi nhận, giúp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho một bộ phận lớn NCT. Tuy nhiên, diện bao phủ hưu trí nhìn chung còn rất thấp; mức trợ cấp xã hội thường xuyên theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP và Nghị định 20/2021/NĐ-CP vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt tối thiểu hằng ngày của NCT nếu họ không có nguồn thu nhập nào khác. Hệ thống chăm sóc sức khỏe chuyên khoa lão khoa và các dịch vụ chăm sóc xã hội, chăm sóc dài hạn còn rất mỏng, chưa được đầu tư tương xứng, dẫn đến chi phí khám chữa bệnh trở thành gánh nặng lớn cho NCT và gia đình. 
Mặt khác, việc triển khai các chính sách phát triển việc làm và phát huy vai trò của NCT vẫn còn gặp nhiều rào cản do thiếu cơ chế kiểm tra, thiếu các biện pháp khuyến khích kinh tế và nguồn kinh phí từ ngân sách địa phương còn hạn hẹp. Đề tài đã chỉ rõ khoảng trống lớn trong triển khai thực hiện: sự tương thích giữa mục tiêu ASXH và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn khoảng cách; nhận thức của các cấp lãnh đạo và bản thân người dân ở khu vực nông thôn về việc chuẩn bị cho tuổi già còn hạn chế; khả năng tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao của NCT nghèo, NCT vùng sâu vùng xa còn rất thấp. Việc phân tích nhu cầu và cơ chế cung cấp dịch vụ khẳng định NCT Việt Nam đang đối mặt với tình trạng “già khi chưa giàu”, đòi hỏi một cơ chế cung ứng dịch vụ ASXH đa dạng, linh hoạt và có sự phối hợp chặt chẽ giữa khu vực công lập và tư nhân. 
Chương 3. Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam
Chương 3 thiết lập các đề xuất dựa trên bối cảnh phát triển mới và kết quả dự báo dân số cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2029-2069. Trên quan điểm bảo đảm ASXH cho NCT là quyền con người và là trách nhiệm của toàn xã hội, đề tài định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng thích ứng chủ động và già hóa tích cực. Hệ thống giải pháp được xây dựng đồng bộ thành các nhóm cụ thể. Trước hết là nhóm giải pháp chung nhằm nâng cao nhận thức, hoàn thiện hệ thống luật pháp và đổi mới cơ chế quản lý, phân bổ ngân sách trợ giúp xã hội. Đối với nhóm giải pháp đảm bảo thu nhập, đề tài kiến nghị cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đa tầng, linh hoạt hóa bảo hiểm xã hội tự nguyện, từng bước giảm độ tuổi hưởng trợ cấp xã hội (lương hưu xã hội) xuống thấp hơn mức 80 tuổi hiện nay và nâng mức chuẩn trợ cấp để đảm bảo mức sống tối thiểu. 
Song song với việc đảm bảo thu nhập, đề tài nhấn mạnh nhóm giải pháp tăng cường chăm sóc sức khỏe thông qua mở rộng diện bao phủ BHYT phổ cập, phát triển mạng lưới y tế cơ sở và chuyên khoa lão khoa. Đối với việc phát triển hệ thống chăm sóc xã hội toàn diện, đề tài đề xuất đẩy mạnh xã hội hóa, đa dạng hóa các mô hình chăm sóc dài hạn, bán trú và chăm sóc dựa vào cộng đồng (như mô hình câu lạc bộ liên thế hệ), đồng thời khuyến khích tư nhân đầu tư vào các viện dưỡng lão phù hợp với nhu cầu của các nhóm NCT khác nhau. Cuối cùng, nhóm giải pháp phát huy vai trò của NCT hướng tới việc tạo dựng thị trường lao động linh hoạt, giới thiệu việc làm phù hợp với sức khỏe, trí tuệ của NCT, đồng thời thiết lập và vận hành hiệu quả các quỹ chăm sóc, phát huy vai trò NCT tại địa phương nhằm biến nhóm dân số cao tuổi từ “gánh nặng” thành một “nguồn lực dồi dào” cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước. 

Thành viên đề tài:

Ths. Phạm Thị Bảo Hà, Viện KHLĐXH, Bộ LĐTB&XH Ths. Nguyễn Thị Vĩnh Hà, Viện KHLĐXH, Bộ LĐTB&XH Ths. Phạm Minh Thu, Viện KHLĐXH, Bộ LĐTB&XH Ths. Phạm Đai Đồng, Cục BTXH, Bộ LĐTB&XH Ths. Trần Việt Dũng, Viện KHLĐXH, Bộ LĐTB&XH Ths. Hoàng Quỳnh Lê, Viện KHLĐXH, Bộ LĐTB&XH Ths. Nguyễn Thị Thanh Tâm, Cục BTXH, Bộ LĐTB&XH

Từ khóa: Chính sách Pháp luật An sinh xã hội Người cao tuổi Già hóa dân số

Tên file View
CB2022-05 Đăng nhập để xem
Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý trường hợp đối với trẻ em cần sự bảo vệ

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Thị Nhung

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Thiết kế và chế tạo hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Hoàng Anh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đề xuất giải pháp thúc đẩy việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Chí Trường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp phát triển đào tạo kỹ năng số cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Nghiên cứu, đề xuất khung chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 -2030

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Quang Việt

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Đánh giá việc triển khai hướng dẫn của ASEAN về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Ths. Lê Ngự Bình

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |