Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Năm đăng ký: 2018

Năm nghiệm thu: 2018

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo nên nhiều cơ hội song cũng đặt ra không ít thách thức cho việc phát triển nguồn nhân lực kĩ thuật đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kĩ thuật, yêu cầu phát triển giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục nghề nghiệp (GDNN) nói riêng trở nên vô cùng cấp thiết, trong đó đào tạo gắn kết với thị trường lao động cũng luôn là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược,.... Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo" . Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (năm 2016), Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “…. Thí điểm chuyển đổi mô hình trường công lập sang cơ sở giáo dục do cộng đồng, doanh nghiệp quản lý và đầu tư phát triển. Đẩy mạnh dạy nghề và gắn kết đào tạo với doanh nghiệp; …. Tăng cường quản lý nhà nước về nguồn nhân lực, gắn kết cung - cầu” .

Những năm qua, hệ thống GDNN Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần phát triển nguồn nhân lực kĩ thuật, từng bước đáp ứng các yêu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa cùng với đó là sự tham gia ngày càng tích cực của nhiều bên liên quan trong đào tạo nghề nghiệp là một trong những yếu tố tạo nên hiệu quả GDNN ở nước ta. Các bên liên quan trong GDNN gồm: các cơ quan chính phủ, chính quyền địa phương, cơ sở GDNN, doanh nghiệp, đại diện cộng đồng doanh nghiệp (VCCI, VCA), người dạy, người học, các tổ chức xã hội, phụ huynh... Mỗi bên có những vai trò, chức năng khác nhau trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng phát triển nguồn nhân lực quốc gia, điều phối lợi ích giữa các bên, đảm bảo sự phát triển của toàn hệ thống; cơ sở GDNN cung cấp sản phẩm đào tạo và dịch vụ cho xã hội, trong đó cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên là các bên liên quan quyết định danh tiếng, uy tín, chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhà trường; cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là người sử dụng lao động, sử dụng các sản phẩm của nhà trường... Do đó, việc tạo môi trường thuận lợi để gắn kết các bên liên quan trong tổ chức và quản lý đào tạo nghề nghiệp (ở cả cấp độ quốc gia, vùng miền, địa phương) được coi là một nhiệm vụ quan trọng.

Năm 2014, Quốc hội ban hành Luật giáo dục nghề nghiệp trong đó quy định rõ các chính sách về xã hội hóa GDNN cũng như quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động GDNN làm cơ sở cho việc triển khai các hoạt động hợp tác giữa các bên liên quan trong GDNN [17]. Trên thực tế, việc thực hiện các hoạt động hợp tác này đã được chú trọng và triển khai ở nhiều cấp độ, nhiều mô hình hợp tác đào tạo giữa cơ sở GDNN với doanh nghiệp mang lại hiệu quả cao như mô hình ở Trường Cao đẳng Kỹ nghệ II, Cao đẳng Lilama II, Cao đẳng Bách nghệ Hải Phòng...[28]. Các hoạt động hợp tác này dựa trên cơ sở chia sẻ quyền lợi và trách nhiệm nhằm đạt được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng nhu cầu xã hội. Ở cấp độ quốc gia, việc xây dựng các chính sách phát triển hệ thống GDNN có sự tham mưu của nhiều cơ quan, tổ chức... Có thể thấy, việc tăng cường các hoạt động hợp tác trong GDNN đã được các cấp, ngành quan tâm và bước đầu mang lại những kết quả nhất định.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc thúc đẩy mối liên kết giữa các bên liên quan trong GDNN ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế: sự tham gia của các tổ chức, đơn vị vào các hoạt động GDNN chưa đa dạng, còn mang tính hình thức; các phương thức kết nối quan hệ đối tác còn lỏng lẻo; việc triển khai các mô hình hợp tác giữa cơ sở GDNN với các bên liên quan trong quá trình đào tạo chưa sâu rộng; doanh nghiệp, một trong những đối tác chính trong hoạt động GDNN, mặc dù đã có chính sách nhưng không quan tâm tới việc đào tạo nguồn nhân lực tại các cơ sở GDNN; cơ sở GDNN khó kết nối với doanh nghiệp.v.v… .

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, song nghiên cứu từ kinh nghiệm quốc tế cũng như thông qua khảo sát thực tiễn cho thấy, một trong những nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một mô hình tổ chức và cơ chế điều phối hoạt động của các bên liên quan trong GDNN làm cơ sở, tiền đề triển khai và quản lý các hoạt động GDNN ở nhiều cấp độ (trung ương, địa phương, cơ sở). Xác định tầm quan trọng của tổ chức điều phối hoạt động của các đối tác có liên quan trong GDNN, Dự thảo Đề án “Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp” đã xác định một trong những giải pháp là hình thành ban/bộ phận điều phối hoạt động doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động gắn kết với GDNN ở các cấp với sự tham gia của đại diện cơ quan QLNN, đại diện doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động, hiệp hội nghề nghiệp và đại diện cơ sở GDNN”.

Chính vì thế, để tăng cường xã hội hóa GDNN và nâng cao chất lượng GDNN đáp ứng yêu cầu xã hội, yêu cầu xây dựng cơ chế điều phối giữa các đối tác có liên quan thông qua quan điểm tiếp cận 3 bên: Nhà nước, doanh nghiệp, nhà trường trong đó phân định rõ nội dung, thực hiện quyền và trách nhiệm của các bên trong phát triển GDNN trở nên rất cấp thiết.

Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp” là rất cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung:

Đề xuất mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của ban/bộ phận điều phối hoạt động của các đối tác có liên quan nhằm nâng cao hiệu quả gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động.

Mục tiêu cụ thể :

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế điều phối hoạt động các đối tác có liên quan trong GDNN

- Đề xuất cơ chế hoạt động của các đối tác có liên quan trong GDNN nhằm nâng cao hiệu quả gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động

- Kiến nghị các giải pháp và điều kiện, lộ trình thực hiện

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Báo cáo tổng hợp của Đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong GDNN

Chương 2. Thực trạng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong GDNN ở Việt Nam

Chương 3. Đề xuất cơ chế hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong GDNN nhằm nâng cao hiệu quả gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động

4. Nội dung chính của đề tài

Chương I: Cơ sở lý luận về cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Nội dung chương này tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng như giáo dục nghề nghiệp, đối tác, điều phối, và cơ chế điều phối hoạt động giữa các bên liên quan trong GDNN. Đề tài khẳng định bản chất của cơ chế điều phối này là tổng thể các quy định về tổ chức và vận hành nhằm thiết lập sự phối hợp giữa Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội doanh nghiệp, doanh nghiệp và nhà trường nhằm tìm kiếm các giải pháp phát triển GDNN và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Mối quan hệ hữu cơ giữa đào tạo và sử dụng lao động được phân tích kỹ lưỡng, chỉ ra rằng việc gắn kết này mang lại lợi ích toàn diện cho tất cả các bên: giúp nhà trường cập nhật chương trình sát thực tế, giúp doanh nghiệp chủ động nguồn nhân lực chất lượng cao giảm chi phí đào tạo lại, và giúp Nhà nước tránh lãng phí nguồn lực đầu tư xã hội. Bên cạnh đó, chương này cũng phân tích sâu sắc nhóm các yếu tố tác động đến việc xây dựng cơ chế điều phối, bao gồm các yếu tố khách quan như chủ trương của Đảng, cơ chế thị trường, sự phát triển của khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế, và các yếu tố chủ quan như nhận thức của các đối tác, năng lực tham gia cũng như chế độ thông tin quản lý.

Cuối cùng, đề tài tổng hợp kinh nghiệm phong phú từ các quốc gia có hệ thống GDNN tiên tiến như Úc (với mô hình Ủy ban Kỹ năng và Hội đồng kỹ năng ngành), Na Uy (với hợp tác 3 bên chặt chẽ và mô hình đào tạo 2+2), Vương quốc Anh (với mô hình hội đồng kỹ năng ngành độc lập do bên sử dụng lao động dẫn dắt), và Cộng hòa Liên bang Đức (với vai trò điều phối của Viện Nghiên cứu đào tạo nghề Liên bang), từ đó đúc rút những bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam.

Chương II: Thực trạng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Chương này đi sâu khảo sát và phân tích thực trạng hệ thống văn bản pháp lý cũng như các hoạt động hợp tác thực tế tại Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2017. Đề tài đánh giá rằng hành lang pháp lý (như Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014) đã có những quy định bước đầu về xã hội hóa và quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp, tuy nhiên các chính sách ưu đãi dành cho người sử dụng lao động khi tham gia GDNN vẫn chưa đủ mạnh mẽ và đồng bộ để tạo động lực tự nguyện.

Về mặt thực tiễn, mối quan hệ hai bên giữa nhà trường và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, tỷ lệ và tần suất hợp tác sâu (như cùng xây dựng chuẩn đầu ra, chương trình học hay đánh giá học viên) còn thấp; lý do chủ yếu là doanh nghiệp chưa thực sự mặn mà và cơ sở GDNN còn gặp nhiều khó khăn trong kết nối. Dù thực tế tại Việt Nam đã hình thành một số mô hình điều phối hoạt động ở các cấp độ như Hội đồng Quốc gia giáo dục và phát triển nhân lực, Tổ công tác gắn kết GDNN với thị trường lao động, hay các mô hình đối tác 3 bên tại một số cơ sở (như trường Lilama 2, các trường đào tạo nhân lực ngành Logistics, Cấp thoát nước,...), nhưng các mô hình này vẫn hoạt động khá đơn lẻ, thiếu tính hệ thống và gặp nhiều rào cản hành chính trong quá trình triển khai.

Kết quả phân tích cho thấy nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên là do thiếu vắng một tổ chức chuyên trách đóng vai trò "cầu nối" và điều phối chung, đồng thời chế độ thông tin quản lý, dự báo nhu cầu thị trường lao động giữa các bên còn rất yếu và thiếu công cụ hỗ trợ hiện đại.

Chương III: Đề xuất cơ chế hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong GDNN nhằm nâng cao hiệu quả gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động

Trên cơ sở lý luận, thực trạng và bối cảnh đổi mới, chương cuối cùng của đề tài tập trung đề xuất giải pháp mang tính đột phá thông qua việc xây dựng mô hình tổ chức và cơ chế điều phối hoạt động đồng bộ dựa trên ba nguyên tắc cốt lõi: tính khoa học, tính thực tiễn và tính hiệu quả.

Mô hình tổ chức điều phối được đề xuất thiết lập rõ ràng theo hai cấp. Ở cấp Trung ương, đề tài đề xuất hoàn thiện cấu trúc và cơ chế hoạt động của Hội đồng Quốc gia GDNN (hoặc Hội đồng kỹ năng ngành cấp quốc gia) với sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước, các hiệp hội doanh nghiệp lớn và các chuyên gia giáo dục để định hình chính sách vĩ mô, xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề. Ở cấp địa phương, đề tài đề xuất thành lập các Hội đồng GDNN địa phương (cấp tỉnh/thành phố) để làm đầu mối kết nối trực tiếp cung - cầu lao động phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng miền. Cơ chế vận hành của các tổ chức này được quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế tài chính (chuyển dần từ hỗ trợ ngân sách sang mô hình dịch vụ do doanh nghiệp cùng chi trả).

Để hiện thực hóa mô hình, đề tài đã vạch ra hệ thống các giải pháp triển khai đồng bộ như hoàn thiện thể chế pháp lý, nâng cao năng lực cho các bên, xây dựng hệ thống thông tin TTLĐ hiện đại, cùng lộ trình thực hiện hai giai đoạn cụ thể: Giai đoạn đến năm 2025 tập trung thí điểm tại một số ngành nghề ưu tiên và địa phương trọng điểm; Giai đoạn đến năm 2030 tiến tới hoàn thiện và triển khai nhân rộng mô hình tổ chức điều phối trên phạm vi toàn quốc.

 

Thành viên đề tài:

ThS. Lê Thị Hồng Liên, Viện Khoa học GDNN - Thư ký ThS. Nguyễn Xuân Hiến, Viện Khoa học GDNN - Thành viên chính ThS. Phùng Lê Khanh, Viện Khoa học GDNN - Thành viên chính ThS. Lê Thị Thảo, Viện Khoa học GDNN - Thành viên chính; ThS. Lê Hải Cường, Tổng cục GDNN - Thành viên ThS. Đào Anh Tuấn, Tổng cục GDNN - Thành viên ThS. Trần Thị Lan Anh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)- Thành viên ThS. Nguyễn Xuân Vinh, Tổng Liên đoàn LĐVN- Thành viên ThS. Đào Sinh Bình, Tổng cục GDNN - Thành

Từ khóa: Cơ chế điều phối Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam

Tên file View
CB2018-07 Đăng nhập để xem
Giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Tống Hải Nam

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Văn Thanh

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2012

Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hằng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường ĐHSPKTNĐ

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Phan Sỹ Nghĩa

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: ThS. Lưu Quang Tuấn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.s Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Giải pháp sử dụng hiệu quả lao động người cao tuổi

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Doãn Thị Mai Hương

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đánh giá 5 năm thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Hoàng Kim Ngọc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |