Tiếp cận CDIO trong đào tạo giáo viên dạy nghề trình độ đại học tại các Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển tiếp sang nền kinh tế tri thức, vai trò của các trường đại học như những động cơ cho sự tăng trưởng kinh tế càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Một trong những thách thức chính yếu mà các trường đại học đang phải đối mặt là làm thế nào để đào tạo sinh viên có thể đáp ứng nhu cầu của một nền kinh tế đang phát triển, và cụ thể là làm thế nào để sinh viên có được các kiến thức, kỹ năng và thái đố mà doanh nghiệp và các bên liên quan khác mong muốn.

Bối cảnh hội nhập giáo dục ngày càng sâu rộng đòi hỏi việc đào tạo nguồn nhân lực có năng lực đáp ứng được yêu cầu của không chỉ các doanh nghiệp của trong nước mà của các doanh nghiệp nước ngoài là một trong những giải pháp nhằm làm cho kinh tế - xã hội Việt Nam phát triển ổn định và bền vững.

Nghị quyết Đại hội Đảng XII đã khẳng định để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì đến năm 2020, cần đảm bảo tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 - 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%. Để đạt được mục tiêu đó, đối với giáo dục, tiếp tục thực hiện có hiệu quả đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa theo hướng hiện đại.

Luật Giáo dục nghề nghiệp được thông qua tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 đã xác định cơ cấu nhân lực qua đào tạo của giáo dục nghề nghiệp (GDNN) là sơ cấp, trung cấp và cao đẳng.

Để đạt được mục tiêu trên, trước hết là phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên trong các cơ sở GDNN. Mục tiêu chung của các trường đại học SPKT là đào tạo giáo viên có đủ năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm (NVSP) để giảng dạy ở các cơ sở GDNN trong cả nước. Vai trò của các trường sư phạm kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề (GVDN). Đào tạo GVDN trong các trường đại học sư phạm kỹ thuật (ĐHSPKT) nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng tăng về số lượng cũng như chất lượng cho các cơ sở dạy nghề là vấn đề quan trọng và có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển nguồn nhân lực nước ta hiện nay. Cùng với kiến thức chuyên môn, GVDN phải vững vàng về kỹ năng nghề để tổ chức và thực hiện tốt quá trình đào tạo nghề nhất là dạy nghề theo hướng tích hợp hiện nay.

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để xây dựng chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo (CTĐT) đại học, mỗi cách tiếp cận có những đặc điểm riêng:

Cách tiếp cận hàn lâm (academic) với mục tiêu truyền thụ kiến thức cho người học, CTĐT được thịnh hành vào những thiên niên kỷ trước, điển hình là các CTĐT của Liên Xô trước đây. Các CTĐT này thường rất nhiều môn học với khối lượng kiến thức nhiều và đa dạng. Các chương trình này được thiết kế bởi các chuyên gia giáo dục, các nhà khoa học đầu đàn thuộc một lĩnh vực đào tạo (nhưng thường là chuyên gia giáo dục thuộc một đơn ngành, chuyên ngành).

Cách tiếp cận mục tiêu (goal) của CTĐT được phát triển vào những năm 60 của thế kỷ XX, khi mà khoa học, kỹ thuật và công nghệ có những thành tựu nhảy vọt, nền kinh tế - xã hội đòi hỏi nguồn nhân lực đa dạng, xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa ngày càng tác động sâu rộng. Các CTĐT theo cách tiếp cận này luôn phải trả lời câu hỏi: người học tốt nghiệp sẽ làm được gì, cần trang bị cho họ kiến thức cần thiết nào cho phù hợp, trang bị kỹ năng gì để hành nghề… thậm chí ngay mỗi môn học, mỗi tín chỉ cũng phải có mục tiêu và quán triệt mục tiêu này trong việc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp, giới hạn kiến thức cốt lõi cho phù hợp. Vì thế, CTĐT đã tiệm cận với nhu cầu xã hội hơn, thực tế hơn; ngoài trang bị kiến thức cho người học còn chú trọng phát triển đạo đức, nhân cách, các kỹ năng, năng lực và nghiệp vụ chuyên môn cho người học. Tuy nhiên, tính đơn ngành, chuyên ngành của CTĐT còn nặng về chuyên môn chiều sâu hơn là chiều rộng. Người học buộc phải theo lộ trình đào tạo cứng theo mô hình “kế hoạch hóa”, chưa chú trọng tới nhu cầu học vượt, học chậm. Những môn học lựa chọn cũng nặng về chuyên ngành, khó liên thông, liên kết giữa các khóa học, ngành học, các đơn vị đào tạo khác nhau. Điều này dễ dẫn đến việc tổ chức đào tạo khép kín, theo niên khóa và người học thụ động, tuân thủ theo lịch trình giảng dạy cứng cho mọi đối tượng đào tạo.

Cách tiếp cận phát triển (development) kế thừa những thành tựu, kinh nghiệm của các cách tiếp cận truyền thống, kết hợp với xu thế phát triển của thời đại.

Các cách tiếp cận trên thường xuất phát từ thực tế hiện có của các trường đại học, chú ý đến sự phân tích vị trí mà người tốt nghiệp đảm nhiệm, do đó có khả năng đáp ứng được yêu cầu xã hội.

Trong tiếp cận phát triển, hiện nay, một số trường đại học đang áp dụng phương pháp tiếp cận CDIO trong xây dựng chuẩn đầu ra và phát triển CTĐT. CDIO (chữ viết tắt của các từ: Conceive - hình thành ý tưởng, Design - thiết kế, Implement – triển khai và Operate - vận hành) là một hệ thống phương pháp phát triển CTĐT kỹ sư, là mô hình đào tạo căn cứ đầu ra (outcome - based) để thiết kế đầu vào.

Xây dựng CTĐT theo cách tiếp cận CDIO đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học, chuyên gia giáo dục, cán bộ giảng dạy giàu kinh nghiệm, cán bộ đang tham gia giảng dạy trong và ngoài trường với doanh nghiệp, đại diện cơ quan tổ chức sử dụng sản phẩm đào tạo và một số cựu SV thuộc ngành đào tạo.

Việc nâng cao chất lượng đào tạo trong giáo dục đại học nhằm đáp ứng yêu cầu xã hội đòi hỏi nhà trường tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có việc xác định CĐR, phát triển CTĐT.

Về tổng thể, CDIO có thể áp dụng để áp dụng cho nhiều lĩnh vực đào tạo khác nhau ngoài ngành đào tạo kỹ sư, bởi lẽ nó đảm bảo khung kiến thức và kỹ năng cho SV có khả năng thích ứng với sự phát triển của công nghệ và nhiều lĩnh vực khác nhau. Cho nên, có thể nói, CDIO là mô hình đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội, trên cơ sở xác định CĐR, từ đó thiết kế chương trình và kế hoạch đào tạo một cách hiệu quả.

Đào tạo theo CDIO, SV sẽ đạt bốn khối kiến thức, kỹ năng và khi tốt nghiệp, SV sẽ phát triển kỹ năng, kiến thức đó trong thực tiễn nghề nghiệp. Mục tiêu đào tạo CDIO là hướng tới việc giúp SV có được kỹ năng cứng và kỹ năng mềm cần thiết khi ra trường, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của xã hội cũng như bắt nhịp được với những thay đổi vốn rất nhanh của thực tiễn đời sống xã hội. Những SV giỏi có thể làm chủ, dẫn dắt sự thay đổi cần thiết theo hướng tích cực.

Theo các chuyên gia đánh giá, những lợi ích mà đào tạo theo mô hình CDIO mang lại là: Gắn kết được cơ sở đào tạo với yêu cầu của người tuyển dụng, từ đó thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo của nhà trường và yêu cầu của nhà sử dụng nguồn nhân lực; giúp người học phát triển toàn diện với các “kỹ năng cứng” và “kỹ năng mềm” để nhanh chóng thích ứng với môi trường làm việc luôn thay đổi và thậm chí là đi đầu trong việc thay đổi đó; giúp các CTĐT được xây dựng và thiết kế theo một quy trình chuẩn; các công đoạn quá trình đào tạo có tính liên thông và gắn kết khoa học chặt chẽ; gắn phát triển CTĐT với chuyển tải và đánh giá hiệu quả giáo dục đại học (GDĐH), góp phần nâng cao chất lượng GDĐH. Như vậy, đào tạo theo CDIO là hướng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế.

CDIO là một phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu xã hội, trên cơ sở xác định CĐR, từ đó thiết kế chương trình và kế hoạch đào tạo một cách hiệu quả.

Đào tạo theo cách tiếp cận CDIO gắn với nhu cầu của người tuyển dụng, từ đó giúp thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo của nhà trường và yêu cầu của nhà sử dụng nguồn nhân lực.

Đào tạo theo cách tiếp cận CDIO sẽ giúp người học phát triển toàn diện với các “kỹ năng cứng” và “kỹ năng mềm” để nhanh chóng thích ứng với môi trường làm việc luôn thay đổi và thậm chí là đi đầu trong việc thay đổi đó.

Đào tạo theo cách tiếp cận CDIO sẽ giúp các CTĐT được xây dựng và thiết kế theo một quy trình chuẩn. Các công đoạn của quá trình đào tạo sẽ có tính liên thông và gắn kết chặt chẽ.

Cách tiếp cận CDIO là cách tiếp cận phát triển, gắn phát triển chương trình với chuyển tải và đánh giá hiệu quả giáo dục đại học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học lên một tầm cao mới.

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tiếp cận CDIO trong đào tạo giáo viên dạy nghề trình độ đại học tại các trường đại học sư phạm kỹ thuật” là hết sức cần thiết.

2. Mục tiêu nghiên cứu

a. Mục tiêu chung: Đề xuất một số định hướng và giải pháp khả thi để ứng dụng phương pháp tiếp cận CDIO trong phát triển CTĐT giáo viên dạy nghề trình độ đại học tại các trường ĐHSPKT.

b. Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về CDIO và ứng dụng trong phát triển CTĐT giáo viên dạy nghề.

- Hệ thống kinh nghiệm quốc tế về tiếp cận CDIO trong phát triển CTĐT giáo viên dạy nghề, bài học rút ra cho Việt Nam.

- Đánh giá thực trạng tiếp cận CDIO trong phát triển CTĐT giáo viên dạy nghề trình độ đại học tại các trường ĐHSPKT trong những năm qua và các yếu tố tác động.

- Đề xuất một số định hướng và giải pháp khả thi ứng dụng CDIO trong phát triển CTĐT giáo viên dạy nghề trình độ đại học tại các trường đại học SPKT.

- Vận dụng phát triển CTĐT giáo viên dạy nghề ngành Công nghệ chế tạo máy tại Trường ĐHSPKT Nam Định.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tiếp cận CDIO trong đào tạo giáo viên dạy nghề trình độ đại học tại các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật.

Chương 2: Thực trạng đào tạo giáo viên dạy nghề ngành Công nghệ chế tạo máy trình độ đại học tại các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật.

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề tại các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật theo tiếp cận CDIO.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương 1, đề tài luận giải cơ sở lý luận về tiếp cận CDIO trong đào tạo giáo viên dạy nghề trình độ đại học tại các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật

Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về sự hình thành và phát triển của phương pháp tiếp cận CDIO – từ sáng kiến hợp tác quốc tế giữa Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) với ba trường đại học Thụy Điển khởi xướng từ năm 2000 đến quá trình mở rộng ứng dụng trong đào tạo các ngành kỹ thuật, kinh tế và đào tạo giáo viên tại nhiều cơ sở giáo dục đại học trên thế giới và ở Việt Nam – đề tài hệ thống hóa các khái niệm cơ bản: CDIO, đào tạo, chuẩn đầu ra (CĐR), chương trình đào tạo (CTĐT) và phát triển CTĐT. Đề tài phân tích bản chất của CDIO với tư cách là mô hình đào tạo dựa trên năng lực, làm rõ nội dung 12 tiêu chuẩn CDIO tương ứng với các bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đại học được sử dụng phổ biến trên thế giới. Trên cơ sở phân tích các mô hình, phương pháp tiếp cận xây dựng chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề (GVDN) trình độ đại học hiện có, đề tài luận giải sự cần thiết và xu hướng áp dụng phương pháp tiếp cận CDIO trong đào tạo GVDN, đồng thời chỉ ra các nhóm yếu tố chủ quan (năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng thực hành nghề của đội ngũ giảng viên) và yếu tố khách quan (chuẩn giáo viên dạy nghề, khung pháp lý, mã ngành đào tạo…) tác động đến công tác đào tạo GVDN tại các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (ĐHSPKT).

4.2. Chương 2, đề tài đánh giá thực trạng đào tạo giáo viên dạy nghề ngành Công nghệ chế tạo máy trình độ đại học tại các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật

Đề tài khảo sát, phân tích thực trạng chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo GVDN ngành Công nghệ chế tạo máy tại các trường ĐHSPKT hiện nay về cấu trúc, nội dung (phẩm chất đạo đức, kiến thức, kỹ năng, khả năng ngoại ngữ, tin học, khả năng tự học, vị trí việc làm sau tốt nghiệp) và các điều kiện bảo đảm thực hiện (đội ngũ, cơ sở vật chất). Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế và trong nước về triển khai đào tạo tiếp cận CDIO – trong đó có kinh nghiệm của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đơn vị đào tạo đại học đầu tiên của Việt Nam gia nhập Hiệp hội CDIO thế giới từ năm 2010, và kinh nghiệm triển khai của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh – đề tài rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo. Trên cơ sở đó, đề tài đánh giá thực trạng triển khai đào tạo theo tiếp cận CDIO tại các trường ĐHSPKT (Nam Định, Hưng Yên, Thành phố Hồ Chí Minh…), chỉ ra những kết quả bước đầu đạt được cũng như những hạn chế về xây dựng CĐR, phát triển CTĐT, đội ngũ và điều kiện triển khai, làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất định hướng, giải pháp ở chương 3.

4.3. Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề tại các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật theo tiếp cận CDIO.

Trên cơ sở phân tích bối cảnh phát triển khoa học công nghệ, đổi mới giáo dục đại học và hội nhập khu vực, quốc tế, đề tài xây dựng quy trình phát triển chương trình đào tạo GVDN theo tiếp cận CDIO gồm 9 bước, tuân thủ quy trình phát triển CTĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tại Thông tư số 07/2015/TT-BGDĐT, đồng thời cụ thể hóa nội dung từng bước cho phù hợp với đặc thù đào tạo GVDN. Trên cơ sở quy trình đó, đề tài ứng dụng phát triển chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề ngành Công nghệ chế tạo máy trình độ đại học theo tiếp cận CDIO (xây dựng CĐR, khung CTĐT với 154 tín chỉ, trong đó có 22 tín chỉ thực hành và 85 tín chỉ khối giáo dục chuyên nghiệp), phát triển chương trình chi tiết các học phần và đề xuất điều kiện, lộ trình thực hiện. Đề tài đưa ra các khuyến nghị đối với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các trường ĐHSPKT về việc thí điểm áp dụng mô hình đào tạo tiếp cận CDIO trong đào tạo giáo viên dạy nghề, trước hết tại Trường ĐHSPKT Nam Định, cùng các điều kiện về nguồn lực và nhận thức của đội ngũ cán bộ giảng dạy, quản lý cần bảo đảm để triển khai thành công.

Thành viên đề tài:

ThS. Đoàn Tuấn Nam, Trường ĐHSPKTNĐ - Thư ký; TS. Trần Văn Khiêm, Trường ĐHSPKTNĐ - Thành viên chính; ThS. Nguyễn Thanh Tùng, Trường ĐH SPKT Vĩnh Long -Thành viên chính; TS. Trần Xuân Thảnh, Trường ĐHSPKTNĐ - Thành viên chính; TS. Đặng Quyết Thắng, Trường ĐHSPKTNĐ -Thành viên; TS. Nguyễn Ngọc Hùng, Trường ĐHSPKTNĐ -Thành viên; TS. Nguyễn Trường Giang, Trường ĐHSPKTNĐ - Thành viên; TS. Cao Danh Chính - Trường ĐHSPKTVinh - Thành viên; ThS. Trần Đình Tùng, Trường ĐHSPKTNĐ - Thành viên.

Từ khóa: Tiếp cận CDIO Giáo viên dạy nghề Chuẩn đầu ra Chương trình đào tạo Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Giáo dục nghề nghiệp

Tên file View
CB2016-04-07.pdf Đăng nhập để xem
Tiếp cận CDIO trong đào tạo giáo viên dạy nghề trình độ đại học tại các Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý trường hợp đối với trẻ em cần sự bảo vệ

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Thị Nhung

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Thiết kế và chế tạo hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Hoàng Anh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đề xuất giải pháp thúc đẩy việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Chí Trường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp phát triển đào tạo kỹ năng số cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Nghiên cứu, đề xuất khung chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 -2030

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Quang Việt

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |