Tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các ngành sử dụng nhiều lao động
Chủ nhiệm:
TS. Nguyễn Thị Hồng
Năm đăng ký:
2016
Năm nghiệm thu:
2017
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hướng tới tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, thúc đẩy trách nhiệm xã hội trong các ngành sử dụng nhiều lao động là thực sự cấp thiết. Với số lượng lao động đông, phạm vi phát huy hiệu quả trách nhiệm xã hội doanh nghiệp rộng, tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các ngành sử dụng nhiều lao động là nền tảng tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong toàn Việt Nam. Tăng cường trách nhiệm xã hội doanh nghiệp không chỉ bảo vệ quyền lợi của người lao động mà còn bảo vệ quyền lợi của mọi chủ thể trong xã hội. Tăng cường trách nhiệm xã hội doanh nghiệp cũng là tăng cường hình ảnh của doanh nghiệp và hình ảnh quốc gia, cải thiện năng lực cạnh tranh toàn cầu nhưng vẫn duy trì được sự phát triển hài hoà và thân thiện.
Trong khi nhiều quốc gia khác đã có những chiến lược và chương trình hành động về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp thì vấn đề trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn còn tiếp tục gặp phải các tranh cãi. Thêm vào đó, hiện nay đã xuất hiện xu hướng thay đổi và biến tướng nhanh của trách nhiệm xã hội trong các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động có liên quan đến yếu tố nước ngoài (có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp xuất khẩu). Nghiên cứu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhằm tăng cường trong các ngành sử dụng nhiều lao động là thực sự cần thiết và cấp bách.
Đề tài góp phần khẳng định bản chất của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (TNXHDN) từ góc độ xã hội dân sự, khẳng định vai trò của Chính phủ đặc biệt là vai trò của cơ quan giúp việc Chính phủ về vấn đề Lao động và Xã hội trong việc tăng cường TNXHDN. Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện TNXHDN trong các ngành sử dụng nhiều lao động (NSDNLĐ).
2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu chung: Đề xuất được các giải pháp nhằm tăng cường TNXHDN trong các ngành sử dụng nhiều lao động ở Việt Nam.
b. Mục tiêu cụ thể:
- Xác định được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tăng cường TNXHDN trong các ngành sử dụng nhiều lao động;
- Tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về tăng cường TNXHDN trong các ngành sử dụng nhiều lao động;
- Đánh giá hiện trạng thực thi TNXHDN trong các ngành sử dụng nhiều lao động ở Việt Nam và những nỗ lực của các bên liên quan trong việc tăng cường TNXHDN;
- Đưa ra được các giải pháp tăng cường TNXHDN trong các ngành sử dụng nhiều lao động.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các ngành sử dụng nhiều lao động.
Chương 2: Thực trạng thực hiện và tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các ngành sử dụng nhiều lao động.
Chương 3: Giải pháp tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các ngành sử dụng nhiều lao động.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tăng cường TNXHDN trong các ngành sử dụng nhiều lao động
Chương 1 tập trung làm rõ hệ thống khái niệm nền tảng và cơ sở phương pháp luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHDN) trong bối cảnh các ngành sử dụng nhiều lao động (NSDNLĐ). Đề tài xác định TNXHDN là sự tự nguyện của doanh nghiệp cam kết thực hiện tốt các vấn đề về lao động, môi trường, hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc gia, thông lệ quốc tế và đảm bảo hài hòa cũng như tăng cường lợi ích các bên, đồng thời góp phần phát triển kinh tế xã hội của quốc gia một cách bền vững. Các ngành sử dụng nhiều lao động được xác định là các ngành có số lượng lao động cao nhất trong nền kinh tế, bao gồm: ngành sản xuất trang phục, ngành xây dựng và ngành chế biến thủy sản.
Về nội dung TNXHDN trong NSDNLĐ, đề tài tiếp cận theo hệ thống bốn nhóm trách nhiệm của EU: (1) trách nhiệm đối với người lao động - bao gồm đảm bảo lương, phúc lợi, an toàn vệ sinh lao động, chống phân biệt đối xử, quyền tự do hiệp hội; (2) trách nhiệm đối với thị trường - đảm bảo quyền và lợi ích người tiêu dùng, đối tác; (3) trách nhiệm về môi trường - tuân thủ pháp luật môi trường, giảm thiểu ô nhiễm; (4) trách nhiệm đối với cộng đồng - đóng góp phát triển cộng đồng địa phương. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi TNXHDN được phân tích theo hai nhóm: nhân tố nội tại (quan điểm lãnh đạo, tầm nhìn chiến lược, nhận thức cán bộ và người lao động, cơ sở vật chất) và nhân tố bên ngoài (yêu cầu khách hàng, sức ép của tổ chức đại diện người lao động, hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước, vai trò của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam).
Đề tài tổng hợp kinh nghiệm quốc tế từ Nhật Bản, Đức, Singapore, Malaysia và Trung Quốc về tăng cường TNXHDN trong NSDNLĐ. Điểm chung của các quốc gia thành công là: có chiến lược quốc gia về TNXHDN rõ ràng; thực hiện theo mô hình ba bên Chính phủ - Doanh nghiệp - Xã hội dân sự; có hệ thống tiêu chuẩn cấp ngành phù hợp với bối cảnh quốc gia; tăng cường vai trò của truyền thông và xã hội dân sự trong giám sát. Từ đó, đề tài rút ra sáu bài học kinh nghiệm cốt lõi cho Việt Nam, bao gồm: tạo nhận thức toàn dân về TNXHDN; hoàn thiện hành lang pháp lý; xây dựng đầu mối thống nhất từ trung ương đến địa phương; khuyến khích doanh nghiệp tích hợp TNXHDN vào chiến lược kinh doanh; và tạo môi trường cho xã hội dân sự tham gia giám sát.
4.2. Chương 2: Thực trạng thực hiện và tăng cường TNXHDN trong các ngành sử dụng nhiều lao động
Chương 2 phân tích thực trạng ba ngành sử dụng nhiều lao động được lựa chọn nghiên cứu: ngành sản xuất trang phục (5.709 doanh nghiệp, 1.247.932 lao động - chiếm 10,28% tổng lao động cả nước), ngành xây dựng (55.198 doanh nghiệp, 1.713.793 lao động - chiếm 14,12%) và ngành chế biến thủy sản (1.362 doanh nghiệp). Ba ngành này chiếm tổng cộng 24,77% tổng số lao động của cả nước (theo số liệu Niên giám thống kê 2015).
Kết quả khảo sát 20 doanh nghiệp (may mặc 40%, xây dựng 30%, thủy sản 30%) cho thấy: về các yếu tố nội tại, 80% doanh nghiệp đánh giá quan điểm lãnh đạo là yếu tố thúc đẩy TNXHDN, song nhận thức về TNXHDN của người lao động trực tiếp vẫn là rào cản lớn nhất (đặc biệt trong ngành xây dựng). Về TNXHDN tại nơi làm việc, các mặt đạt được gồm: 100% doanh nghiệp bố trí nhân sự phụ trách an toàn vệ sinh lao động; 95% tôn trọng quyền tự do hiệp hội; 90% tổ chức lấy ý kiến người lao động; 70% có mức lương tối thiểu cao hơn mức lương tối thiểu vùng. Tuy nhiên, các tồn tại đáng lo ngại gồm: 25% doanh nghiệp còn áp dụng hình phạt như lăng mạ, xâm phạm thân thể; 5% còn quấy rối tình dục; tình trạng làm thêm giờ quá mức và vi phạm về trả lương làm thêm giờ vẫn phổ biến; một số doanh nghiệp còn sử dụng lao động trẻ em hoặc lao động chưa thành niên làm công việc nặng nhọc.
Về TNXHDN đối với cộng đồng, 90% doanh nghiệp tham gia các hoạt động cộng đồng, trong đó phổ biến nhất là phối hợp với chính quyền địa phương (77,8%), khuyến khích người lao động tham gia hoạt động cộng đồng (72,2%) và hỗ trợ kinh phí dự án phát triển cộng đồng (55,6%). Về vai trò của các bên liên quan, Chính phủ đã ban hành hệ thống pháp luật lao động đầy đủ và phê chuẩn 21 công ước ILO, triển khai nhiều chiến lược và chương trình quốc gia về phát triển bền vững. Tuy nhiên, hiệu lực thực thi pháp luật còn yếu, chế tài xử phạt thấp, chưa có đầu mối thống nhất về TNXHDN ở cấp quốc gia và thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các bên liên quan.
4.3. Chương 3: Giải pháp tăng cường TNXHDN trong các ngành sử dụng nhiều lao động
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm tăng cường TNXHDN trong NSDNLĐ, dựa trên bối cảnh phát triển bền vững của Việt Nam và các yêu cầu của hội nhập quốc tế. Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (Quyết định 432/QĐ-TTg) khẳng định "Con người là trung tâm của phát triển bền vững", tạo định hướng nền tảng cho các giải pháp của đề tài.
Đề tài xác định chín yêu cầu cốt lõi đối với việc tăng cường TNXHDN trong NSDNLĐ, trong đó nhấn mạnh: doanh nghiệp phải hiểu đúng bản chất TNXHDN (không đơn thuần là từ thiện); TNXHDN phải được tích hợp vào chiến lược kinh doanh; đặc biệt chú trọng nội dung TNXHDN tại nơi làm việc trong NSDNLĐ; và cần khuyến khích các hiệp hội ngành xây dựng bộ quy tắc ứng xử phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực.
Về giải pháp từ phía cơ quan quản lý nhà nước về lao động: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần tham mưu cho Chính phủ thiết lập tổ chức đầu mối quốc gia về TNXHDN và doanh nghiệp phát triển bền vững; tăng cường xây dựng tiêu chuẩn lao động cấp ngành phiên bản Việt Nam; đẩy mạnh thanh tra lao động kết hợp tuyên truyền pháp luật; tăng cường sức ép của truyền thông và thu hút toàn dân tham gia giám sát; hoàn thiện chế tài xử phạt đủ mức răn đe; và tiếp tục tranh thủ hỗ trợ quốc tế từ ILO, Better Work, OXFAM.
Về khuyến nghị đối với doanh nghiệp: Lãnh đạo doanh nghiệp cần tăng cường nhận thức, tuyên bố chính sách TNXHDN công khai trên website và thành lập Ban phụ trách TNXHDN với đầu mối từ các phòng chức năng. Doanh nghiệp cần thực hiện các hoạt động tự kiểm, tự đánh giá định kỳ và lập báo cáo TNXHDN thường niên. Riêng doanh nghiệp ngành xây dựng cần tăng cường kiểm soát nhà thầu phụ; doanh nghiệp ngành may mặc và thủy sản cần nâng cao năng lực giám sát chuỗi cung ứng. Đối với hiệp hội ngành, cần xây dựng tiêu chuẩn ngành Việt Nam, tổ chức diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm và hình thành kênh thông tin về TNXHDN cập nhật cho doanh nghiệp.
Thành viên đề tài:
TS. Đoàn Thị Yến, Trường Đại học Lao động - Xã hội, Thư ký; TS. Bùi Tôn Hiến, Trường Đại học Lao động - Xã hội, Thành viên chính; PGS.TS. Lê Thanh Hà, Trường Đại học Lao động - Xã hội, Thành viên chính; TS. Phạm Ngọc Thành, Trường Đại học Lao động - Xã hội, Thành viên chính; TS. Nguyễn Thị Minh Hòa, Trường Đại học Lao động - Xã hội, Thành viên chính; ThS. Tống Văn Lai, Vụ Lao động - Tiền lương, Thành viên; TS. Nguyễn Duy Phúc, Trung tâm Hỗ trợ và Phát triển Quan hệ Lao động, Thành viên; ThS. Ngô
Từ khóa:
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Ngành sử dụng nhiều lao động Tăng cường trách nhiệm xã hội Phát triển bền vững May mặc Xây dựng Chế biến thủy sản Việt Nam
|
Tên file |
View |
|
CB2016-02-05.pdf
|
Đăng nhập để xem
|