Quy trình và phương pháp xây dựng chuẩn đầu ra các trình độ giáo giục nghề nghiệp

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Quang Việt

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

Quy trình và phương pháp xây dựng chuẩn đầu ra các trình độ giáo giục nghề nghiệp

Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Quang Việt, Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề - Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện ở đầu ra cần phải đạt được những chuẩn về kiến thức, kỹ năng và năng lực cần thiết, không chỉ đáp ứng cho một công việc cụ thể nhất định mà cần phải phát triển cho người học khả năng tự học và tự định hướng phát triển tương lai cho bản thân, thích ứng với các điều kiện thay đổi của công nghệ và yêu cầu mới của thị trường lao động, của nghề nghiệp tương lai.

Chuẩn đầu ra (CĐR) các trình độ giáo dục nghề nghiệp (GDNN) là sự công khai hóa các tiêu chí, tiêu chuẩn nhằm đảm bảo và khẳng định về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cả về kiến thức, kỹ năng, năng lực, vị trí và khả năng làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên tốt nghiệp. Mục tiêu của CĐR là nhằm đảm bảo cho người học sẽ đạt được và thể hiện được trong thực tiễn cuộc sống sau quá trình học tập. CĐR là cơ sở để xây dựng chương trình, thiết kế nội dung và tổ chức các hoạt động đào tạo và cam kết về chất lượng đầu ra của quá trình đào tạo đó. CĐR chung (xác định chất lượng kết quả đào tạo ở mức cần thiết chung) được ban hành sẽ tạo khung tiêu chuẩn thiết yếu giúp cho các cơ sở GDNN xây dựng CĐR cho từng môn học, mô đun hoặc cho các chuyên ngành chuyên sâu, đặc thù.

Việc xây dựng CĐR còn làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên, đặc biệt là xác định và đánh giá những gì sinh viên thể hiện được. Thông tin đánh giá được sử dụng để cải tiến chương trình đào tạo và đổi mới phương pháp nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo. Quan điểm đào tạo theo CĐR cần được xác định nhất quán trong quan điểm, mục tiêu đào tạo và trong xây dựng và thực thi chương trình của hệ thống GDNN hiện nay. Việc xây dựng CĐR còn giúp cho việc tổ chức, thiết kế toàn bộ trình độ GDNN, bảo đảm tính thống nhất và sự liên thông giữa các bậc đào tạo từ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học. Đồng thời, việc xây dựng CĐR còn làm cơ sở đánh giá và chứng nhận chất lượng đào tạo cho các cơ sở GDNN.

Chiến lược Phát triển Nguồn nhân lực Việt Nam 2011-2020 đã xác định đến năm 2020 có khoảng 61,5% lao động qua đào tạo GDNN, đòi hỏi năng lực đào tạo của hệ thống tăng trung bình 3,4% hằng năm. Đến năm 2020, sẽ xây dựng danh mục và thống nhất chương trình đào tạo theo ngành, nghề cho GDNN, ưu tiên xây dựng và ban hành các CĐR cho từng nghề phù hợp với khung trình độ quốc gia. Quan trọng hơn hết là quá trình hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) với khung tham chiếu chung theo tiếp cận CĐR đặt ra cho Việt Nam và các nước thành viên cần phải tham chiếu để thực hiện công nhận lẫn nhau về trình độ và kỹ năng nghề tạo điều kiện dịch chuyển lao động trong khu vực.

Thực tế cho thấy hiện nay, việc xây dựng và công bố CĐR của các cơ sở giáo dục đại học vẫn mang tính hình thức, chưa xác định rõ mục tiêu đào tạo và cách thức cũng như điều kiện bảo đảm chất lượng để triển khai thực hiện. CĐR các cơ sở giáo dục đại học hiện nay mới chỉ là chuẩn của chương trình đào tạo mang tính "mong đợi" mà không phải "cam kết" đáp ứng theo nhu cầu xã hội và người sử dụng lao động. Đối với GDNN việc xây dựng và đánh giá CĐR chưa được chính thức quy định, hướng dẫn cũng như thực hiện và cũng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu qui trình và phương pháp xây dựng CĐR. Hơn nữa, trong thực tế hệ thống GDNN chưa thực sự tiếp cận CĐR mà chủ yếu tiếp cận đầu vào và quá trình. Trong khi đó, theo Luật GDNN 2015 các cơ sở đào tạo phải tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc xây dựng chương trình đáp ứng chuẩn kiến thức tối thiểu và yêu cầu năng lực theo từng bậc trình độ. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Quy trình và phương pháp xây dựng CĐR các trình độ GDNN" là rất có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất quy trình và phương pháp xây dựng CĐR các trình độ GDNN tham chiếu khung trình độ quốc gia và khung tham chiếu trình độ ASEAN.

3. Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm phần Mở đầu, Nội dung và Kết luận, kiến nghị, trong đó phần Nội dung được kết cấu thành 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về quy trình và phương pháp xây dựng CĐR các trình độ GDNN.

Chương II: Thực trạng xây dựng CĐR tại Việt Nam.

Chương III: Đề xuất quy trình và phương pháp xây dựng CĐR các trình độ GDNN.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương I: Cơ sở lý luận về quy trình và phương pháp xây dựng chuẩn đầu ra các trình độ giáo dục nghề nghiệp

Chương 1 tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về quy trình và phương pháp xây dựng CĐR, từ tiếp cận đào tạo theo năng lực ở Mỹ những năm 1960-1970, mô hình đào tạo kép (Dual system) của Đức, mô hình 2+2 của Na Uy, hệ thống đánh giá kỹ năng nghề của Nhật Bản, đến phương pháp tiếp cận CDIO (Conceive - Design - Implement - Operate) của khối ngành kỹ thuật Mỹ và mô hình lý thuyết ba lĩnh vực của B.Bloom (nhận thức, cảm xúc, kỹ năng tâm vận).

Đề tài hệ thống hóa nhiều định nghĩa về CĐR từ các tổ chức và học giả trong và ngoài nước (Jenkins and Unwin, UNESCO, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Lê Đức Ngọc và Trần Hữu Hoàn, Trần Văn Hòe, Trần Khánh Đức...), từ đó khẳng định: CĐR là những gì người học sẽ biết, hiểu và làm được sau khi kết thúc một chương trình đào tạo; là cam kết của nhà trường với xã hội về năng lực và phẩm chất mà người học đạt được khi tốt nghiệp. Đề tài làm rõ khái niệm CĐR giáo dục nghề nghiệp là yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, trách nhiệm nghề nghiệp và những phẩm chất khác mà người học cần phải đạt được sau khi hoàn thành chương trình đào tạo ở mỗi cấp trình độ; đồng thời phân tích mô hình đào tạo theo CĐR, trong đó CĐR là thành tố trung tâm, vừa là điểm xuất phát vừa là đích hướng tới của toàn bộ quá trình đào tạo, có sự tham gia của bốn nhóm liên quan: người học, doanh nghiệp, giáo viên và xã hội.

Đề tài phân tích mục đích và ý nghĩa của CĐR, các nguyên tắc xây dựng quy trình và phương pháp xây dựng CĐR, cũng như các yếu tố tác động bao gồm: ý nghĩa nội tại của thuật ngữ CĐR và tiêu chuẩn kỹ năng nghề; yếu tố pháp lý; nhu cầu thực tiễn nghề nghiệp; và năng lực của cơ sở GDNN.

Phần kinh nghiệm quốc tế khảo sát vai trò của CĐR trong Cộng đồng chung Châu Âu, việc mô đun hóa CĐR như một yếu tố tạo sự linh hoạt trong chương trình giảng dạy, cùng phương pháp và quy trình xây dựng CĐR của một số nước Châu Âu, làm cơ sở tham chiếu cho việc đề xuất quy trình áp dụng tại Việt Nam.

4.2. Chương II: Thực trạng xây dựng chuẩn đầu ra tại Việt Nam

Chương 2 phân tích cơ sở pháp lý liên quan đến xây dựng CĐR tại Việt Nam, gồm Luật Giáo dục nghề nghiệp (quy định hệ thống trình độ chính quy GDNN gồm sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và yêu cầu các cơ sở GDNN tự chủ, tự chịu trách nhiệm xây dựng chương trình đào tạo); các văn bản hướng dẫn xây dựng và công bố CĐR của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Công văn số 2196/BGDĐT-GDĐH năm 2010, Công văn số 2435/BGDĐT-GDĐH năm 2013); Khung trình độ quốc gia Việt Nam theo Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 với cấu trúc 8 bậc trình độ từ Sơ cấp I đến Tiến sĩ, trong đó mỗi bậc được mô tả chi tiết về kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ và trách nhiệm cùng khối lượng học tập tối thiểu; và Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (TCKNNQG) theo Luật Việc làm, với 189 bộ tiêu chuẩn đã ban hành tính đến tháng 12/2015.

Đề tài phân tích thực trạng xây dựng CĐR giáo dục đại học, cho thấy theo báo cáo của 182 trường (89 đại học, 93 cao đẳng) năm 2015, tỷ lệ chương trình đào tạo đã công bố CĐR đạt 93,15% ở trình độ cao đẳng, 98,42% ở trình độ đại học, 53,09% ở trình độ thạc sĩ và 41,94% ở trình độ tiến sĩ. Tuy nhiên, việc xây dựng CĐR còn gặp nhiều khó khăn: khó đáp ứng các tiêu chí đa dạng của nhà tuyển dụng; mâu thuẫn giữa năng lực thực tế của nhà trường và yêu cầu công bố; CĐR còn chung chung, thiếu yếu tố định lượng, chưa gắn với chương trình đào tạo, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập; thiếu sự nhất quán giữa các trường cùng đào tạo một ngành.

Đề tài tiến hành khảo sát thực trạng chương trình khung dạy nghề Quản trị khách sạn tại các cơ sở GDNN, kết quả cho thấy chương trình khung hiện hành chỉ đáp ứng một phần yêu cầu giảng dạy và học tập của giáo viên và người học; nhiều môn học, mô đun trong chương trình khung cần được bổ sung, điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu thực tế của nghề.

Trên cơ sở đó, đề tài đánh giá chung: việc xây dựng CĐR mới chỉ được thực hiện ở các trình độ đại học, cao đẳng (thuộc giáo dục đại học trước đây), còn các trình độ GDNN (dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp) vẫn chưa có CĐR mà theo tiếp cận mục tiêu quy định trong luật. CĐR đã công bố còn mang tính "kỳ vọng" hơn là "cam kết", chưa làm cơ sở cho kiểm định chương trình và chưa cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà tuyển dụng. Theo Luật GDNN 2015, chương trình khung sẽ không còn được sử dụng, các trường sẽ tự chủ xây dựng chương trình đào tạo dựa trên CĐR được ban hành, do đó cần có phương hướng, mục tiêu và điều kiện thực tế để xây dựng chương trình đào tạo theo CĐR phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

4.3. Chương III: Đề xuất quy trình và phương pháp xây dựng chuẩn đầu ra các trình độ giáo dục nghề nghiệp

Chương 3 phân tích bối cảnh hội nhập và xu hướng áp dụng CĐR trong GDNN Việt Nam, trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) với các Thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRAs) trong 8 lĩnh vực nghề và Khung Tham chiếu Trình độ ASEAN (AQRF) được phê chuẩn năm 2014-2015, cũng như trong khuôn khổ APEC với việc xây dựng tiêu chuẩn năng lực chung cho các nghề Logistics, Nuôi trồng thủy sản, Xây dựng dân dụng, Chế tạo và Công nghệ ô tô, Du lịch. Đề tài chỉ ra cơ hội (Khung trình độ quốc gia Việt Nam được xây dựng theo tiếp cận CĐR tương tự AQRF) song cũng nêu các thách thức (chất lượng GDNN chậm cải thiện, hạn chế về ngoại ngữ và khả năng thích ứng của lao động, sự khác biệt về hệ thống phân loại ngành nghề).

Trên cơ sở Khung trình độ quốc gia Việt Nam (VQF) ban hành theo Quyết định số 1982/QĐ-TTg với cấu trúc 8 bậc trình độ, đề tài xác định định hướng áp dụng CĐR trong GDNN, trong đó Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được giao chủ trì xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện VQF, tổ chức tham chiếu các trình độ GDNN với AQRF, phối hợp với các bộ, ngành, hiệp hội nghề nghiệp, cơ sở giáo dục để xây dựng, phê duyệt CĐR và các minh chứng kèm theo cho từng trình độ, lĩnh vực, ngành đào tạo thuộc GDNN.

Đề tài đề xuất quy trình xây dựng CĐR các trình độ GDNN gồm 5 bước: (i) Thành lập tổ chuyên gia thực hiện xây dựng CĐR, với thành phần gồm chuyên gia từ doanh nghiệp, cơ sở giáo dục đào tạo, cơ sở nghiên cứu khoa học; (ii) Xác định phạm vi, vị trí việc làm trong nghề tương ứng trình độ đào tạo, dựa trên tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, mục tiêu GDNN theo từng trình độ và các chương trình đào tạo hiện hành; (iii) Xác định đầu ra kiến thức, kỹ năng, thái độ, mức độ tự chủ và trách nhiệm chung cho trình độ đào tạo, trên cơ sở phân tích các vị trí việc làm để xác định điểm đặc trưng, diện và chiều sâu của mỗi trình độ; (iv) Biên soạn CĐR trình độ đào tạo theo mẫu định dạng thống nhất; (v) Đánh giá, nghiệm thu thông qua hội đồng chuyên gia, sử dụng bảng kiểm CĐR gồm 10 tiêu chí (như tính rõ ràng, khả năng đo lường, tính cụ thể của CĐR) để rà soát chất lượng sản phẩm.

Về phương pháp xây dựng CĐR, đề tài đề xuất ba bước cốt lõi: xác định phạm vi và vị trí việc làm trong nghề (dựa chủ yếu trên tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, trong đó trình độ cao đẳng hướng đến bậc 3, trung cấp hướng đến bậc 2 của khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia); xác định đầu ra kiến thức, kỹ năng, thái độ, mức độ tự chủ và trách nhiệm chung cho trình độ đào tạo; và biên soạn CĐR theo mẫu định dạng thống nhất, bao gồm 8 thành phần: tên ngành nghề đào tạo (tiếng Việt, tiếng Anh), trình độ đào tạo, kiến thức, kỹ năng, thái độ và định hướng giá trị, kiến thức pháp luật - chính trị - quốc phòng, vị trí việc làm sau tốt nghiệp, và khả năng học tập nâng cao trình độ. Đề tài đã ứng dụng quy trình và phương pháp này để xây dựng thử nghiệm CĐR cho nghề Quản trị khách sạn ở trình độ cao đẳng và trung cấp.

Đề tài tiến hành khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của quy trình, phương pháp đã đề xuất thông qua khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu 75 chuyên gia từ các trường cao đẳng, cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và 15 chuyên gia thuộc cơ quan quản lý nhà nước về GDNN. Kết quả khảo nghiệm cho thấy 92% ý kiến đánh giá quy trình là cần thiết hoặc rất cần thiết (29% rất cần thiết, 63% cần thiết) và 97% ý kiến đánh giá là khả thi hoặc rất khả thi (82% khả thi, 15% rất khả thi), khẳng định tính khoa học, đúng đắn và phù hợp thực tiễn của quy trình, phương pháp xây dựng CĐR các trình độ GDNN đã đề xuất.

 

Thành viên đề tài:

ThS. Bùi Thị Thanh Nhàn, Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề - Tổng cục Dạy nghề, Thư ký; TS. Hoàng Ngọc Vinh, Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề - Tổng cục Dạy nghề, Thành viên chính; TS. Nguyễn Văn Đường, Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề - Tổng cục Dạy nghề, Thành viên; PGS.TS. Nguyễn Văn Khôi, Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề - Tổng cục Dạy nghề, Thành viên chính; ThS. Võ Thị Như Uyên, Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề - Tổng cục Dạy nghề, Thành viên chính; ThS. Đặng Thị Huyền, Viện Nghiên cứu

Từ khóa: Chuẩn đầu ra Giáo dục nghề nghiệp Khung trình độ quốc gia Tiêu chuẩn kỹ năng nghề Quy trình xây dựng chuẩn đầu ra Khung tham chiếu trình độ ASEAN Đào tạo theo năng lực

Tên file View
CT2016-01-04.pdf Đăng nhập để xem
Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý trường hợp đối với trẻ em cần sự bảo vệ

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Thị Nhung

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Thiết kế và chế tạo hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Hoàng Anh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đề xuất giải pháp thúc đẩy việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Chí Trường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp phát triển đào tạo kỹ năng số cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Nghiên cứu, đề xuất khung chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 -2030

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Quang Việt

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Đánh giá việc triển khai hướng dẫn của ASEAN về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Ths. Lê Ngự Bình

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |