Phát triển dịch vụ công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình
Chủ nhiệm:
TS. Nguyễn Trung Hải
Năm đăng ký:
0
Năm nghiệm thu:
2019
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung, trẻ tự kỷ (TTK) và gia đình trẻ tự kỷ (GĐ TTK) nói riêng đang là vấn đề nhận được sự quan tâm sâu sắc của các nhà khoa học, chuyên gia và toàn xã hội trong và ngoài nước. Trên thế giới, việc phát triển dịch vụ công tác xã hội (DV CTXH) đã chứng minh được vai trò can thiệp hiệu quả trên diện bao phủ rộng. Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành CTXH, số lượng trẻ được chẩn đoán tự kỷ đang tăng lên theo cấp số nhân qua từng năm, gây ra những áp lực lớn về tâm lý, tài chính và năng lực chăm sóc cho các gia đình. Mặc dù đã có một số nghiên cứu và dịch vụ trợ giúp ban đầu, song các nghiên cứu mang tính chuyên sâu, đánh giá toàn diện về thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH hỗ trợ TTK và gia đình ở phạm vi rộng còn tồn tại khoảng trống lớn. Do đó, việc triển khai nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng để từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH là hết sức cấp thiết, giúp TTK và gia đình giải quyết các khủng hoảng, đáp ứng nhu cầu và thúc đẩy cơ hội phát triển hòa nhập bền vững.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là tiến hành nghiên cứu, phân tích sâu sắc các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc cung cấp dịch vụ CTXH cho trẻ tự kỷ và gia đình trẻ. Trên cơ sở đánh giá thực trạng các loại hình cơ sở, nội dung dịch vụ, quy trình, cách thức cung cấp cũng như các yếu tố tác động, đề tài hướng đến việc xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH, bảo đảm quyền lợi hợp pháp và đáp ứng tối đa nhu cầu của nhóm đối tượng đặc thù này tại Việt Nam.
3. Kết cấu của đề tài
Báo cáo tổng hợp đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình
4. Nội dung chính của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình. Chương này tập trung xây dựng hệ thống lý luận nền tảng và tổng quan các công trình nghiên cứu đi trước. Về mặt tổng quan, tác giả phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đặc điểm lâm sàng, hành vi ngôn ngữ, phương pháp can thiệp y tế - giáo dục hòa nhập, đồng thời chỉ ra khoảng trống về mặt dịch vụ CTXH chuyên sâu cho cả trẻ lẫn gia đình. Khung khái niệm cốt lõi của đề tài được định vị rõ ràng bao gồm các định nghĩa về “Trẻ em” (dưới 16 tuổi theo Luật Trẻ em 2016), “Tự kỷ”, “Trẻ tự kỷ”, “Gia đình trẻ tự kỷ”, “Dịch vụ”, “Dịch vụ công tác xã hội”, “Cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội”, “Phát triển”, “Hỗ trợ” và “Phát triển dịch vụ công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình”.
Nghiên cứu làm rõ các vấn đề thực tiễn của đối tượng thông qua đặc điểm tâm lý, mối quan hệ gia đình (thường căng thẳng về hôn nhân, tài chính, công việc), khu vực sinh sống (thành thị có tỷ lệ tiếp cận cao hơn nông thôn), cùng các dấu hiệu nhận biết của trẻ về giác quan, tư duy tưởng tượng, cảm xúc trí tuệ, giao tiếp và hành vi (rập khuôn, định hình, la hét). Các dạng tự kỷ được phân loại chi tiết theo tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-5 (2013), theo thời điểm mắc (điển hình và không điển hình), theo chỉ số thông minh kết hợp khả năng nói, và theo mức độ (nhẹ, trung bình, nặng). Nguyên nhân dẫn đến tự kỷ được khẳng định là một rối loạn phát triển thần kinh có nền tảng sinh học đa diện, tác động từ yếu tố môi trường, bệnh tật của người mẹ khi mang thai, yếu tố di truyền cho đến các vấn đề tâm lý thần kinh và hóa chất của não. Từ đó, chương một đúc kết các nhóm nhu cầu bức thiết của trẻ và gia đình như nhu cầu phòng ngừa, phát hiện can thiệp sớm, nhu cầu trang bị kiến thức kỹ năng, tham vấn tâm lý, hòa nhập trường học và cộng đồng. Hệ thống chính sách lồng ghép và các loại hình cơ sở cung cấp dịch vụ (công lập và ngoài công lập) cũng được hệ thống hóa, kết hợp với bài học kinh nghiệm phát triển dịch vụ từ các quốc gia đi trước như Mỹ, Úc, Anh để rút ra định hướng áp dụng phù hợp cho bối cảnh Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình. Nội dung chương này đi sâu phản ánh kết quả khảo sát thực tế về thực trạng của trẻ tự kỷ, gia đình trẻ và chất lượng hệ thống dịch vụ hiện hành. Đề tài cung cấp các dữ liệu cụ thể về đặc điểm của trẻ (mức độ tự kỷ, hội chứng đi kèm) và đặc điểm của gia đình (về khu vực sinh sống, nghề nghiệp, thu nhập cũng như những khó khăn, khủng hoảng tâm lý nghiêm trọng mà họ gặp phải). Trên phương diện đánh giá dịch vụ, chương hai mô tả bức tranh thực tế về sự vận hành của các loại hình cơ sở trợ giúp xã hội công lập và ngoài công lập.
Nghiên cứu phân tích chi tiết thực trạng các loại hình dịch vụ đang được triển khai cho trẻ (can thiệp sớm, sàng lọc, chẩn đoán, trị liệu, phục hồi chức năng, hòa nhập cộng đồng) và các dịch vụ dành cho gia đình (phòng ngừa, tham vấn tâm lý, tư vấn cung cấp kiến thức, huy động nguồn lực, biện hộ chính sách). Qua đó, đề tài đánh giá sâu sắc về cách thức, quy trình tiếp nhận, hồ sơ quản lý trường hợp, nguồn kinh phí hoạt động, và thực trạng đội ngũ cán bộ cung cấp dịch vụ (về giới tính, độ tuổi, kinh nghiệm và trình độ chuyên môn, chuyên ngành đào tạo). Đề tài đưa ra nhận xét khách quan về hiệu quả đạt được, mức độ thuyên giảm của trẻ, mức độ hài lòng của gia đình, đồng thời chỉ ra các hạn chế lớn như việc dịch vụ chuyên sâu còn thiếu vắng ở nông thôn, cơ sở vật chất chưa đồng bộ và sự chồng chéo trong quản lý cấp phép. Cuối cùng, chương hai phân tích và đo lường cụ thể các yếu tố tác động đến hiệu quả cung cấp dịch vụ, bao gồm cơ chế chính sách, chuyên môn của cán bộ, đặc điểm của trẻ và gia đình, nhận thức của cộng đồng, sự phối hợp giữa các cơ sở và điều kiện cơ sở vật chất.
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình. Từ những luận cứ lý luận của chương một và bức tranh thực trạng sinh động tại chương hai, chương cuối cùng định hình hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và thực tiễn. Trước hết, tác giả phân tích các bối cảnh tác động tại Việt Nam bao gồm văn hóa, kinh tế - xã hội và chính trị, từ đó xác lập các quan điểm, định hướng phát triển dịch vụ CTXH hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình mang tính bền vững. Hệ thống giải pháp được chia thành các nhóm cụ thể, bao gồm:
Nhóm giải pháp tăng cường độ bao phủ của các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH nhằm khắc phục sự thiếu hụt tại các vùng sâu, vùng xa;
Nhóm giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ CTXH chuyên sâu cho cả trẻ và người chăm sóc;
Nhóm giải pháp hoàn thiện, chuẩn hóa quy trình cung cấp dịch vụ CTXH và quản lý trường hợp;
Nhóm giải pháp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, nhân viên công tác xã hội;
Nhóm giải pháp can thiệp, hỗ trợ toàn diện trực tiếp đối với gia đình trẻ tự kỷ về mặt tâm lý và kỹ năng ứng phó;
Nhóm giải pháp tác động đối với cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức, giảm thiểu sự kỳ thị, phân biệt đối xử;
Các nhóm giải pháp bổ trợ khác liên quan đến hoàn thiện hành lang pháp lý, chính sách trợ cấp xã hội và tăng cường sự phối hợp liên ngành.
Kết luận
Báo cáo tổng hợp đề tài khẳng định việc phát triển dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình là một nhiệm vụ mang tính nhân văn và có ý nghĩa an sinh xã hội sâu sắc. Việc chuẩn hóa từ lý luận, đánh giá đúng thực trạng và thực thi đồng bộ các giải pháp đột phá về cơ sở vật chất, năng lực nhân sự, mạng lưới dịch vụ và chính sách pháp luật sẽ tạo cơ hội tối đa cho trẻ tự kỷ được can thiệp trong “giai đoạn vàng”, giúp giảm bớt gánh nặng cho gia đình và thúc đẩy một xã hội hòa nhập, bình đẳng.
Thành viên đề tài:
Ths. Nguyễn Phương Anh - Ths. Đỗ Thị Ngọc Bích - Ths. Đỗ Thị An - TS. Nguyễn Huyền Linh - TS. Nguyễn Thị Hiền - Ths. Đặng Quang Trung - TS. Tiêu Thị Minh Hường - Đoàn Hữu Minh - Nguyễn Thanh Hải
Từ khóa:
Dịch vụ công tác xã hội Công tác xã hội Trẻ tự kỷ Việt Nam