Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu lao động trong doanh nghiệp Việt Nam
Chủ nhiệm:
Ths. Lê Ngự Bình
Năm đăng ký:
2015
Năm nghiệm thu:
2016
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
Sau gần 3 thập kỷ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều mặt. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2004-2014 là 6,35%; GDP theo giá thực tế năm 2014 gấp hơn 5,5 lần so với năm 2004; Việt Nam trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp từ năm 2010. Tăng trưởng kinh tế đã thúc đẩy tạo việc làm, cải thiện thu nhập và giảm nghèo nhanh.
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là một khối kinh tế khu vực của các quốc gia thành viên ASEAN sẽ được thành lập vào cuối năm 2015. Để thành một thị trường chung, một cơ sở sản xuất và phân phối chung, AEC sẽ thực hiện tự do luân chuyển năm yếu tố căn bản: vốn, hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động lành nghề, điều này sẽ tác động đến nhu cầu lao động theo kỹ năng trong các ngành. Doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể sau khi Luật doanh nghiệp 2005 ra đời, đã góp phần đóng góp tích cực vào GDP và tạo việc làm. Số lượng lao động làm việc trong các doanh nghiệp không ngừng gia tăng, từ 9,83 triệu lao động năm 2010 lên 11,08 triệu lao động năm 2012 (tăng 12,72%) và đạt khoảng 14 triệu lao động vào năm 2014.
Tuy nhiên, dưới tác động của khủng hoảng kinh tế, không ít doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động, năm 2015 số doanh nghiệp giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh là 9467 doanh nghiệp, giảm 0,4% so với năm 2014, trong đó phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng, chiếm 93,8%. Mặc dù số lượng lao động làm việc trong các khu vực doanh nghiệp có tăng nhưng quy mô lao động bình quân một doanh nghiệp giai đoạn 2010-2014 có xu hướng giảm, bình quân khoảng 32 lao động/doanh nghiệp. Bên cạnh đó, năm 2016 một số chính sách mới như tăng lương tối thiểu, chính sách BHXH,... sẽ tác động đến chi phí lao động trong doanh nghiệp và làm ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng lao động trong doanh nghiệp.
Nghiên cứu đề tài Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu lao động trong doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam tham gia vào nhiều hiệp định thương mại quốc tế sẽ giúp nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến cầu lao động trong doanh nghiệp từ đó có thể hoàn thiện hệ thống lý luận và phương pháp luận đánh giá tác động của các yếu tố đến nhu cầu lao động trong doanh nghiệp Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu chung: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu lao động trong doanh nghiệp Việt Nam.
b. Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn xác định các yếu tố ảnh hưởng của các yếu tố tới nhu cầu lao động;
- Đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến cầu lao động trong doanh nghiệp Việt Nam;
- Đề xuất hệ thống phương pháp luận và phương pháp đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố đến cầu lao động trong doanh nghiệp Việt Nam năm 2015.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn xác định các yếu tố ảnh hưởng tới cầu lao động.
Chương II: Thực trạng yếu tố ảnh hưởng tới cầu lao động trong doanh nghiệp.
Chương III: Kết luận và một số khuyến nghị.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn xác định các yếu tố ảnh hưởng tới cầu lao động
Chương I hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về cầu lao động và các yếu tố tác động đến cầu lao động trong doanh nghiệp, làm nền tảng cho việc phân tích thực trạng ở Chương II.
Cầu lao động được xác định là lượng lao động mà doanh nghiệp có khả năng và sẵn sàng thuê ở các mức tiền lương khác nhau, trong một khoảng thời gian và điều kiện nhất định. Đây là loại cầu dẫn xuất, phụ thuộc vào nhu cầu sản lượng và dịch vụ đầu ra của doanh nghiệp; trong điều kiện năng suất không đổi, cầu lao động tỷ lệ thuận với quy mô sản xuất và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động.
Giá trị gia tăng phản ánh phần giá trị tăng thêm được tạo ra trong quá trình sản xuất, là cơ sở cho việc tăng cầu lao động; tuy nhiên mức tăng còn phụ thuộc vào phương thức tăng trưởng (theo chiều rộng hay chiều sâu) và cơ cấu sử dụng vốn – lao động – công nghệ. Tăng trưởng theo chiều sâu, gắn với công nghệ cao, thường làm giảm cầu lao động giản đơn nhưng tăng mạnh cầu lao động có chuyên môn kỹ thuật.
Đầu tư là yếu tố đầu vào cơ bản, quyết định năng lực sản xuất và là động lực chính tạo ra giá trị gia tăng của doanh nghiệp; đầu tư càng lớn thì sản lượng và cầu lao động càng có xu hướng tăng theo quy luật lợi tức biên.
Cơ sở xác định cầu lao động dựa trên ba khái niệm nền tảng: hàm sản xuất (mối quan hệ giữa lao động, vốn và sản lượng), sản phẩm biên của lao động và vốn (theo quy luật lợi suất giảm dần), và nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, đề tài phân tích cầu lao động trong doanh nghiệp thông qua các công cụ đường đồng lượng, đường đồng phí, điểm tối thiểu hóa chi phí và đường cầu lao động – cho thấy khi tiền lương thay đổi, doanh nghiệp sẽ điều chỉnh kết hợp lao động – vốn để tối đa hóa lợi nhuận.
Đường đồng lượng mô tả các kết hợp giữa lao động và vốn cho cùng một mức sản lượng, luôn dốc xuống, không cắt nhau và lồi về phía gốc tọa độ; đường đồng phí phản ánh các kết hợp lao động – vốn có cùng tổng chi phí, với độ dốc là tỷ số âm của giá lao động và giá vốn. Điểm tối thiểu hóa chi phí là điểm tiếp xúc giữa hai đường này, tại đó tỷ số sản phẩm biên của lao động và vốn bằng tỷ số giá của chúng; từ đó, đường cầu lao động được xác định trên cơ sở doanh nghiệp lựa chọn kết hợp lao động – vốn tối ưu để tối đa hóa lợi nhuận khi tiền lương thay đổi.
Đề tài xây dựng khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cầu lao động theo ba nhóm: (i) các yếu tố đầu ra, (ii) các yếu tố đầu vào, và (iii) tiến bộ khoa học công nghệ.
Về yếu tố đầu ra, khi cầu sản phẩm/dịch vụ tăng sẽ kéo theo giá và giá trị sản phẩm biên tăng, làm tăng cầu lao động, và ngược lại; nội dung này được lý giải qua các trường phái kinh tế học cổ điển (A. Smith, Ricardo) và trường phái Keynes về vai trò kích cầu của đầu tư công.
Về các yếu tố đầu vào, giá vốn và chi phí lao động (tiền lương, tiền lương tối thiểu, chi phí bán cố định như tuyển dụng, đào tạo, bảo hiểm xã hội…) đều tác động hai chiều đến cầu lao động thông qua ảnh hưởng quy mô và ảnh hưởng thay thế giữa vốn và lao động; đề tài dẫn các lý thuyết tăng trưởng của A. Smith, Ricardo, Keynes, mô hình Harrod–Domar, hàm sản xuất Cobb–Douglas và mô hình Solow để làm rõ vai trò của vốn.
Về tiến bộ khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ mới làm tăng năng suất lao động, qua đó tác động hai chiều đến cầu lao động: tăng cầu đối với lao động có chuyên môn kỹ thuật nhưng có xu hướng giảm cầu đối với lao động giản đơn. Đề tài cũng dẫn các lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Arrow, Romer, Lucas) để lý giải vai trò của tiến bộ công nghệ và vốn con người đối với cầu lao động.
Đề tài sử dụng cách tiếp cận của Almas Heshmati (2003), vận dụng hàm sản xuất dạng Cobb–Douglas để xây dựng mô hình định lượng ước lượng cầu lao động (biến phụ thuộc là logarit số lao động) theo các biến độc lập: giá trị gia tăng, vốn, tiền lương bình quân, việc doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp, mức trang bị vốn/lao động, việc sử dụng dịch vụ ngân hàng, số máy tính sử dụng, có website, có kinh doanh qua mạng và có đầu tư nghiên cứu – phát triển (R&D). Mô hình được ước lượng bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), làm cơ sở phân tích thực trạng ở Chương II.
4.2. Chương II: Thực trạng yếu tố ảnh hưởng tới cầu lao động trong doanh nghiệp
Chương II sử dụng hai nguồn số liệu: Điều tra lao động, tiền lương và nhu cầu sử dụng lao động trong doanh nghiệp năm 2015 (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, khảo sát trên 15.091 doanh nghiệp) và Điều tra doanh nghiệp năm 2015 (Tổng cục Thống kê), nhằm đánh giá thực trạng lao động và các yếu tố tác động đến cầu lao động.
Đến giữa năm 2015, cả nước có hơn 12,2 triệu lao động làm việc trong khoảng 456 nghìn doanh nghiệp, trong đó khu vực tư nhân chiếm số lượng doanh nghiệp lớn nhất nhưng quy mô lao động bình quân nhỏ nhất (16 người/doanh nghiệp); khu vực FDI có quy mô lao động bình quân lớn nhất (245 người/doanh nghiệp), gấp 9 lần bình quân chung. Lao động tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ (38,98%) và Đồng bằng sông Hồng (32,84%), trong khi Tây Nguyên có tỷ trọng thấp nhất.
Về bảo hiểm, tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội, y tế và thất nghiệp đạt trên 70%, nhưng tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đóng bảo hiểm cho người lao động còn thấp hơn nhiều (dưới 67%); doanh nghiệp FDI có tỷ lệ và mức đóng bảo hiểm cao nhất, trong khi ngành xây dựng – dù là ngành lao động nặng nhọc – lại có tỷ lệ tham gia bảo hiểm thấp nhất.
Về yếu tố đầu ra, doanh nghiệp nhà nước và FDI có quy mô lớn nên doanh thu, lợi nhuận bình quân cao hơn nhiều so với doanh nghiệp tư nhân; bình quân cả nước mỗi doanh nghiệp đạt doanh thu 39,26 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 3,67 tỷ đồng. Xét theo ngành, dịch vụ chiếm số lượng doanh nghiệp lớn nhất (67%) nhưng ngành khai khoáng có doanh thu và lợi nhuận bình quân/doanh nghiệp cao vượt trội.
Về yếu tố đầu vào, tiền lương bình quân chung cả nước đạt khoảng 10,8 triệu đồng/người/tháng; khu vực thành thị cao hơn nông thôn 1,12 lần, chênh lệch lớn nhất thuộc ngành khai khoáng (gấp 4,6 lần). Ngành khai khoáng có tiền lương bình quân cao nhất, trong khi xây dựng và y tế – trợ giúp xã hội có tiền lương thấp nhất. Về bảo hiểm xã hội, doanh nghiệp FDI đóng bình quân cao nhất (6,2 tỷ đồng/doanh nghiệp/năm), gấp nhiều lần doanh nghiệp nhà nước và tư nhân.
Về tiến bộ khoa học công nghệ, tỷ lệ doanh nghiệp có hệ thống R&D còn rất thấp (0,19%) và tỷ lệ doanh nghiệp có đầu tư cho khoa học công nghệ mới đạt 4,4%; doanh nghiệp xuất khẩu đầu tư cho R&D nhiều hơn nhưng lại đầu tư cho khoa học công nghệ ít hơn doanh nghiệp không xuất khẩu. Mức trang bị vốn trên lao động của doanh nghiệp nhà nước và FDI cao gấp khoảng 5 lần doanh nghiệp tư nhân, phản ánh sự chênh lệch lớn về trình độ công nghệ giữa các loại hình doanh nghiệp.
Xét theo hình thức bảo hiểm, ngành công nghiệp – xây dựng có tỷ lệ tham gia bảo hiểm cao nhất (78,5% BHXH, BHYT và 76,6% BHTN), trong khi ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt thấp hơn mức bình quân chung; trong nhóm ngành dịch vụ, tài chính – ngân hàng – bảo hiểm có tỷ lệ tham gia cao nhất (92,6%) còn nhóm hoạt động dịch vụ khác thấp nhất (khoảng 53%). Đáng chú ý, dù tỷ lệ lao động ngành xây dựng được đóng bảo hiểm thấp, tỷ lệ doanh nghiệp trong ngành có đóng bảo hiểm lại khá cao (khoảng 69%), cho thấy nhiều doanh nghiệp chỉ đóng bảo hiểm cho một bộ phận nhỏ lao động.
Kết quả ước lượng mô hình định lượng cho thấy: tăng trưởng giá trị gia tăng và vốn đầu tư là động lực quan trọng nhất làm tăng cầu lao động (hệ số co giãn lần lượt là 0,31% và 0,12% khi tăng thêm 1%); tiền lương tác động ngược chiều với cầu lao động (tăng lương 1% làm giảm cầu lao động 0,22%); doanh nghiệp trong khu công nghiệp/khu chế xuất có nhu cầu lao động cao hơn 53% so với doanh nghiệp ngoài khu; mức trang bị vốn/lao động có tác động rất yếu, gần như không đáng kể; tiếp cận tín dụng ngân hàng và ứng dụng công nghệ thông tin (số máy tính, thương mại điện tử) có tác động tích cực đến việc làm; riêng yếu tố R&D chưa cho kết quả rõ ràng, có sự khác biệt theo ngành.
Khi phân tách theo loại hình sở hữu, tăng trưởng thúc đẩy cầu lao động mạnh nhất ở khu vực FDI (hệ số 0,395) và ngoài nhà nước (0,304), trong khi tác động ở khu vực nhà nước rất yếu (0,015); ngược lại, đầu tư mở rộng sản xuất tác động mạnh nhất đến cầu lao động ở khu vực nhà nước; tiền lương làm giảm cầu lao động mạnh nhất ở khu vực FDI, yếu nhất ở khu vực nhà nước.
4.3. Chương III: Kết luận và một số khuyến nghị
Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về cầu lao động và các yếu tố ảnh hưởng, xây dựng khung phân tích và phương pháp lượng hóa; đồng thời sử dụng số liệu điều tra doanh nghiệp năm 2015 để đánh giá thực trạng và mối quan hệ giữa các yếu tố với cầu lao động. Kết quả cho thấy phần lớn doanh nghiệp là ngoài nhà nước (92,8%) nhưng khu vực FDI có quy mô lao động, doanh thu và lợi nhuận bình quân lớn nhất; doanh nghiệp nhà nước có tài sản lớn nhưng hiệu quả kinh doanh chưa cao. Đầu tư cho khoa học công nghệ và R&D trong doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế.
Về tác động của các yếu tố: tăng trưởng và vốn đầu tư là động lực chính tạo việc làm; tiền lương tác động ngược chiều với cầu lao động; vị trí trong khu công nghiệp và khả năng tiếp cận tín dụng có tác động tích cực; mức trang bị vốn/lao động và trình độ công nghệ hiện chưa đủ mạnh để tác động rõ rệt đến cầu lao động; tác động của R&D có sự khác biệt theo ngành và loại hình sở hữu doanh nghiệp.
Trên cơ sở dự báo bối cảnh kinh tế – xã hội giai đoạn 2016–2020 (tăng trưởng GDP bình quân 6,5–7%/năm, đẩy mạnh hội nhập quốc tế) và kết quả dự báo cầu lao động trong doanh nghiệp đến năm 2020 (khoảng 16,5 triệu lao động, trong đó khu vực FDI và tư nhân tiếp tục tăng còn khu vực nhà nước giảm), đề tài đưa ra một số khuyến nghị chính:
Tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng đầu tư sản xuất gắn với chuẩn bị nguồn nhân lực trình độ phù hợp; đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tạo việc làm; tạo cơ chế thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy hội nhập nhằm mở rộng sản xuất, tăng cầu lao động có kỹ năng.
Bên cạnh đó, cần khảo sát thực tiễn về quan hệ giữa chi phí lao động và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp làm căn cứ điều chỉnh tiền lương; tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận tín dụng với chi phí hợp lý; có cơ chế khuyến khích đầu tư khoa học công nghệ và R&D; hoàn thiện chính sách giáo dục, đào tạo nghề đáp ứng tiêu chuẩn khu vực và quốc tế; đồng thời hoàn thiện Bộ luật Lao động phù hợp với các cam kết hội nhập quốc tế.
Thành viên đề tài:
Ths. Nguyễn Thế Hà (Cục Việc làm); Ths. Phạm Ngọc Toàn (Viện KHLĐ&XH); CN. Nguyễn Quang Lộc (Cục Việc làm); CN. Nguyễn Thành Tuân (Viện KHLĐ&XH); Ths. Lê Thị Lương (Viện KHLĐ&XH).
Từ khóa:
Tăng trưởng kinh tế Tiền lương Yếu tố ảnh hưởng Nhu cầu lao động Doanh nghiệp Việt Nam Cầu lao động
|
Tên file |
View |
|
CB2015-01-03.pdf
|
Đăng nhập để xem
|