Nghiên cứu xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát các chỉ số đổi mới sáng tạo thuộc trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đến năm 2025
Chủ nhiệm:
TS. Bùi Thái Quyên
Năm đăng ký:
2020
Năm nghiệm thu:
2021
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2019, Việt Nam ghi nhận bước tiến lớn trong đổi mới sáng tạo (ĐMST) khi xếp hạng 42/129 quốc gia và nền kinh tế toàn cầu, đạt thứ hạng cao nhất từ trước đến nay và được đánh giá là quốc gia có mức độ phát triển ĐMST tốt trong nhóm nước có thu nhập trung bình thấp. Nhằm duy trì và thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc gia, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết số 17-2017/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP, giao trách nhiệm cho các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm cải thiện các chỉ số theo phân công. Trong đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) được giao chủ trì 4 chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) cốt lõi bao gồm: Chỉ số 1.2.3 “Chi phí sa thải nhân công”, Chỉ số 5.1.1 “Việc làm trong các ngành thâm dụng tri thức (% tổng việc làm)”, Chỉ số 5.1.2 “Doanh nghiệp có đào tạo chính thức (% doanh nghiệp nói chung)” và Chỉ số 5.1.5 “Lao động nữ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao (% tổng lao động)”.
Tuy nhiên, thực tiễn tính toán của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và các tổ chức quốc tế đối với các chỉ số này đang bộc lộ một số bất cập lớn, như việc WIPO chậm cập nhật những thay đổi của Luật Lao động Việt Nam hay số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) về doanh nghiệp có đào tạo chính thức bị gián đoạn và không phản ánh kịp thời thực trạng. Để thực hiện cải thiện các chỉ số này một cách thực chất, yêu cầu cấp bách đặt ra là phải theo dõi, giám sát việc thực hiện các kế hoạch thông qua việc thu thập dữ liệu đủ lớn, đánh giá định kỳ và phân công trách nhiệm rõ ràng cho các đơn vị. Do đó, đề tài được triển khai nhằm mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn và đánh giá đúng thực trạng, từ đó đề xuất hệ thống theo dõi, giám sát các chỉ số ĐMST thuộc trách nhiệm của ngành LĐTBXH với tầm nhìn đến năm 2025. Đối tượng nghiên cứu tập trung vào hệ thống theo dõi, giám sát và bản thân 4 chỉ số GII được giao, sử dụng các phương pháp tổng quan tài liệu, phương pháp chuyên gia và phân tích định tính dựa trên nguồn số liệu thứ cấp cùng thông tin khảo sát chuyên sâu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Đề xuất hệ thống theo dõi, giám sát các chỉ số ĐMST thuộc trách nhiệm của ngành LĐTBXH.
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về Hệ thống theo dõi, giám sát các chỉ số ĐMST; nghiên cứu các chỉ số ĐMST của ngành LĐTBXH (khái niệm, nội hàm, cách tính hiện các Tổ chức quốc tế WIPO đang tính toán và áp dụng cho các nước);
- Đánh giá thực trạng việc theo dõi, giám sát các chỉ số ĐMST của ngành LĐTBXH; thực trạng hệ thống chỉ số ĐMST của ngành LĐTBXH;
- Đề xuất hệ thống theo dõi, giám sát về các chỉ số ĐMST của ngành LĐTBXH và giải pháp cải thiện các chỉ số ĐMST của ngành LĐTBXH.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, báo cáo tổng hợp bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Hệ thống theo dõi, giám sát Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu.
Chương 2: Đánh giá thực trạng việc theo dõi, giám sát các chỉ số đôi mới sáng tạo thuộc trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Chương 3. Đề xuất hệ thống theo dõi, giám sát các chỉ số đổi mới sáng tạo thuộc trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
4. Nội dung chính từng chương của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Hệ thống theo dõi, giám sát Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu.
Nội dung chương này tập trung làm rõ bản chất của đổi mới sáng tạo khi định nghĩa đây là quá trình chuyển ý tưởng, tri thức thành các kết quả cụ thể nhằm mang lại lợi ích gia tăng cho kinh tế - xã hội, cần được phân biệt rõ ràng với khái niệm “sáng chế” hay “sự sáng tạo” thuần túy. Khung chỉ số ĐMST toàn cầu (GII) do Giáo sư Dutta khởi xướng và được WIPO phát triển bao gồm 7 trụ cột (5 trụ cột đầu vào và 2 trụ cột đầu ra) với khoảng 80 chỉ số thành phần thay đổi theo từng năm, sử dụng hoàn toàn nguồn số liệu thứ cấp từ dữ liệu cứng, dữ liệu chỉ số chung và dữ liệu khảo sát mềm. Xếp hạng GII hàng năm của một quốc gia chịu ảnh hưởng lớn bởi hoạt động thực tế, sự điều chỉnh khung lý thuyết, cách xử lý dữ liệu thiếu và việc thay đổi số lượng các quốc gia tham gia bảng xếp hạng.
Xét về lý luận hệ thống, theo dõi và giám sát được xác định là một hoạt động tiến hành thường xuyên, liên tục để cung cấp bằng chứng phục vụ công tác quản lý của các cấp. Đề tài chỉ ra hai loại hệ thống theo dõi và giám sát chính bao gồm cách làm truyền thống (tập trung vào đầu vào, tiến độ hoạt động) và hệ thống dựa trên kết quả (chú trọng vào đầu ra, kết quả và tác động). Một hệ thống theo dõi, giám sát toàn diện cần cấu thành từ cấu trúc tổ chức, khung theo dõi giám sát, kế hoạch làm việc kèm chi phí, cơ sở dữ liệu liên thông và việc phổ biến sử dụng dữ liệu. Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, Trung Quốc và Thái Lan đều coi ĐMST là động lực tăng trưởng chính, thiết lập hệ thống giám sát lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng ngân sách nghiên cứu và xây dựng hệ thống dữ liệu lớn (Big Data). Kinh nghiệm trong nước tại Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng khẳng định bài học quan trọng về việc cần có một đơn vị đầu mối điều phối, phân công rõ ràng trách nhiệm cho từng đơn vị trực thuộc dựa trên chức năng nhiệm vụ thường xuyên và bố trí nguồn lực tài chính lồng ghép thông qua ngân sách nghiên cứu khoa học.
Chương 2: Đánh giá thực trạng việc theo dõi, giám sát các chỉ số đôi mới sáng tạo thuộc trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Trong bức tranh tổng thể, GII năm 2021 của Việt Nam xếp thứ 44 trên 132 quốc gia, giữ vị trí đứng đầu trong nhóm thu nhập trung bình thấp và duy trì vị trí thứ 3 trong khu vực ASEAN. Mặc dù hệ thống ĐMST của Việt Nam đạt được nhiều kết quả nổi bật ở các nhóm chỉ số đầu ra như sáng tạo tri thức, lan truyền tri thức và sản phẩm sáng tạo, Việt Nam vẫn chỉ đang dừng lại ở nhóm quốc gia “tiếp nhận” công nghệ chứ chưa đóng vai trò dẫn dắt. Đối với 4 chỉ số thuộc trách nhiệm của Bộ LĐTBXH, thực tế cho thấy cơ cấu tổ chức quản lý hiện tại, khung theo dõi giám sát, kế hoạch làm việc cũng như hệ thống cơ sở dữ liệu và nguồn thông tin báo cáo vẫn chưa được xây dựng và vận hành một cách đồng bộ, chuyên sâu để đáp ứng yêu cầu cải thiện chỉ số theo các Nghị quyết của Chính phủ. Việc theo dõi vẫn đang gặp nhiều rào cản do thiếu các hướng dẫn chi tiết, sự phối hợp thông tin chưa chặt chẽ giữa các bên, và các yếu tố khách quan từ phương pháp thu thập của các tổ chức quốc tế dẫn đến những khó khăn lớn trong việc tính toán chính xác và cập nhật kịp thời các dữ liệu chuyên ngành về lao động và việc làm.
Chương 3. Đề xuất hệ thống theo dõi, giám sát các chỉ số đổi mới sáng tạo thuộc trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Để khắc phục các hạn chế hiện tại, định hướng triển khai của Bộ LĐTBXH trong thời gian tới cần tập trung bám sát mục tiêu quốc gia, thiết lập cơ chế giám sát thường xuyên để nâng cao các chỉ số thành phần được giao. Đề tài đề xuất mô hình hệ thống theo dõi, giám sát các chỉ số đổi mới sáng tạo thuộc trách nhiệm của Bộ LĐTBXH một cách đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện. Về cấu trúc tổ chức, hệ thống kiến nghị thành lập Ban chỉ đạo/Ban điều phối do Lãnh đạo Bộ chủ trì với sự tham gia của các đơn vị chuyên trách để phân công rõ ràng nhiệm vụ thu thập, phân tích thông tin. Về khung theo dõi và giám sát, cần xác định rõ các mục tiêu, mốc thời gian cụ thể gắn liền với tiến độ cải thiện từng chỉ số. Kế hoạch làm việc và chi phí cho hoạt động theo dõi, giám sát sẽ được lồng ghép linh hoạt vào nguồn ngân sách hoạt động thường xuyên của Bộ cũng như nguồn kinh phí nghiên cứu khoa học hàng năm thông qua các đề tài cấp Bộ. Cuối cùng, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu chung cần được giao cho một đơn vị quản lý cụ thể nhằm đảm bảo việc thu thập dữ liệu định kỳ, liên thông thông tin và cung cấp bằng chứng xác thực, phục vụ kịp thời cho công tác điều hành, điều chỉnh chính sách của Bộ.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã hoàn thành toàn vẹn các mục tiêu đặt ra khi hệ thống hóa thành công cơ sở lý luận về chỉ số GII và các hợp phần cốt lõi của một hệ thống theo dõi, giám sát dựa trên kết quả. Qua việc phân tích sâu sắc thực trạng 4 chỉ số do Bộ LĐTBXH phụ trách cùng với việc đúc kết bài học kinh nghiệm từ quốc tế và các Bộ ngành trong nước, đề tài đã đưa ra được giải pháp mang tính thực tiễn cao. Việc đề xuất xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát đồng bộ từ cấu trúc tổ chức, khung đánh giá, kế hoạch ngân sách đến cơ sở dữ liệu chuyên ngành chính là cơ sở khoa học vững chắc giúp Bộ LĐTBXH chủ động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện mạnh mẽ các chỉ số đổi mới sáng tạo của ngành với tầm nhìn chiến lược đến năm 2025.
Thành viên đề tài:
ThS. Đặng Hà Thu, Viện KHLĐXH ThS. Hoàng Mạnh Cầm, Viện KHLĐXH TS. Chử Thị Lân, Viện KHLĐXH ThS. Hà Thị Thu Hường, Viện KHLĐXH ThS. Trịnh Hoàng Hiếu, Viện KHLĐXH ThS. Nguyễn Thanh Vân, Viện KHLĐXH
Từ khóa:
Đổi mới sáng tạo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Năm 2025 Chỉ số Theo dõi Giám sát