Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Chủ nhiệm: TS. Lê Văn Thanh

Năm đăng ký: 2011

Năm nghiệm thu: 2013

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

            Bên cạnh việc tạo việc làm trong nước, phát triển việc làm ngoài nước là mục tiêu quan trọng trong chiến lược việc làm quốc gia của Việt nam trong các thời kỳ, đặc biệt là giai đoạn 2010-2020 theo xu hướng toàn cầu hóa và chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Cùng với những lợi ích kinh tế và xã hội to lớn do việc làm ngoài nước đem lại như việc hàng năm tạo ra 80.000 việc làm mới và gần 2 tỷ USD tiền lương chuyển về nước, lao động Việt Nam còn được nâng cao trình độ tay nghề, ngoại ngữ, văn hóa ứng xử... những yếu tố giúp phát triển nghề nghiệp và việc làm bền vững khi trở về. Những năm gần đây, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài chủ yếu thông qua các doanh nghiệp dịch vụ, chiếm 80% tổng số lao động được đưa đi, đây là loại hình doanh nghiệp tương đối đặc thù với hàng hóa là sức lao động của con người nên hoạt động theo cả Luật Doanh nghiệp và Luật người lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Trong thời gian tới, hình thức dịch vụ này vẫn là sự lựa chọn quan trọng để phát triển việc làm ngoài nước.

            Quan điểm quản lý nhà nước về lĩnh vực này được cụ thể hóa trong các Chỉ thị, Nghị Quyết của Đảng, đặc biệt trong Chỉ thị 41_CT/TW ngày 22/9/1998 của Bộ Chính trị (Khóa XIII về Xuất khẩu lao động và chuyên gia) nhiệm vụ của quản lý nhà nước được đặt ra là “...nâng cao trình độ quản lý của các đơn vị xuất khẩu lao động, mặt khác phải chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động đi làm việc ở nước ngoài…”. Tuy nhiên, cùng với các tác động khách quan của khủng hoảng kinh tế, chính trị trong khu vực và trên toàn cầu, việc gia tăng số lượng lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc đang nảy sinh ngày càng nhiều những vấn đề phức tạp ảnh hưởng lớn đến sự an toàn của việc làm ngoài nước. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những hạn chế trong hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ. Nhiều doanh nghiệp có quy mô nhỏ, ít đầu tư vốn và nguồn nhân lực nên hoạt động chưa hiệu quả. Một số doanh nghiệp không chú trọng công tác quản lý lao động làm việc ở nước ngoài, chậm phát hiện và xử lý các vấn đề phát sinh đối với người lao động, có trường hợp kéo dài, gây hậu quả xấu. Thậm chí, vẫn còn một số doanh nghiệp chỉ tập trung vào các thị trường “dễ làm”, ít quan tâm khai thác các thị trường có khả năng nhận nhiều lao động nhưng có điều kiện khắt khe, nên kết quả hoạt động còn hạn chế; một số doanh nghiệp còn chạy theo lợi nhuận trước mắt; một số doanh nghiệp không quản lý chặt chẽ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của các chi nhánh được giao nhiệm vụ; khi xảy ra tranh chấp trong quá trình thực hiện, có những doanh nghiệp đã không tích cực giải quyết kịp thời, dứt điểm, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

            Thực trạng trên đang đặt ra các yêu cầu cấp bách trong việc tăng cường quản lý nhà nước thông qua các công cụ đủ mạnh về pháp lý để giám sát được việc tuân thủ luật pháp, đánh giá được hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Hiện cơ quan quản lý nhà nước vẫn đang thiếu công cụ đánh giá tổng thể hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Trên thực tế, từ năm 2008 đến nay, Hiệp hội Xuất khẩu lao động Việt Nam đã đưa ra bảng xếp hạng các doanh nghiệp dịch vụ căn cứ vào số lượng lao động đưa đi hàng năm, nhưng chỉ tiêu đánh giá này chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, vì vậy kết quả xếp hạng chưa có nhiều ý nghĩa đối với công tác quản lý nhà nước cũng như chưa có giá trị khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Do đó, để có cơ sở khoa học cho việc nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với loại hình doanh nghiệp dịch vụ này nhằm đảm bảo an toàn việc làm và phát triển việc làm ngoài nước, việc nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay.

            Vì vậy, Đề tài: “Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài” có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn đối với công tác xuất khẩu lao động của chúng ta trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

2. Mục tiêu nghiên cứu

            - Xây dựng hệ thống các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài.

            - Phân tích thực trạng công tác đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ;

            - Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

3. Kết cấu của đề tài Gồm 3 chương:

            Chương I: Cơ sở pháp lý để xây dựng tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

            Chương II: Đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

            Chương III: Khuyến nghị áp dụng hệ thống tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương I: Cơ sở pháp lý để xây dựng tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

            Đề tài luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài:

            Hệ thống hóa một số khái niệm cơ bản: khái niệm “phát triển việc làm đàng hoàng ngoài nước” trên cơ sở quan điểm về việc làm đàng hoàng của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (2006); khái niệm “hiệu quả” và “tiêu chí”, trong đó hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ được hiểu là chất lượng dịch vụ việc làm ngoài nước của doanh nghiệp trong suốt quá trình đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài nhằm bảo đảm an toàn và hiệu quả cho người lao động; làm rõ các thuật ngữ liên quan đến các loại hợp đồng trong xuất khẩu lao động (hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, hợp đồng lao động, hợp đồng cá nhân).

            Phân tích ý nghĩa, vai trò của phát triển việc làm ngoài nước với các tác động tích cực (đóng góp vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tạo việc làm, góp phần ổn định xã hội, an ninh - quốc phòng; giải quyết chính sách xã hội; phát triển nguồn nhân lực; chuyển giao nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại) và một số tác động tiêu cực (có thể gây khan hiếm cục bộ lao động nội địa, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng tội phạm hình sự); đồng thời chỉ ra các hình thức phát triển việc làm ngoài nước hiện hành ở Việt Nam, trong đó hơn 80% lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài thông qua các doanh nghiệp dịch vụ.

            Phân tích tính đặc thù của doanh nghiệp dịch vụ về vốn pháp định (tối thiểu 5 tỷ đồng, ký quỹ 1 tỷ đồng), bộ máy hoạt động (không quá 3 chi nhánh) và quy trình hoạt động dịch vụ với 6 khâu: tìm kiếm và ký kết hợp đồng cung ứng lao động; đăng ký hợp đồng cung ứng lao động; tuyển chọn lao động; đào tạo lao động; ký hợp đồng với người lao động và thu các khoản chi phí xuất cảnh; quản lý người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài. Trên cơ sở đó, đề tài phân tích các yếu tố nội tại (nguồn nhân lực và cơ cấu tổ chức, năng lực tài chính, vị trí địa lý, thương hiệu, chất lượng nguồn lao động đưa đi) và các yếu tố khách quan (xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, chính sách tiếp nhận lao động của các quốc gia tiếp nhận, chủ trương - chính sách của Nhà nước) có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ.

            Trên cơ sở phân tích nội dung phản ánh hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động xuất khẩu lao động, đề tài xác định 6 tiêu chí phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ, gồm: (i) Phát triển thị trường; (ii) Năng lực cạnh tranh; (iii) Tuyển chọn và đào tạo; (iv) Quản lý lao động ngoài nước; (v) Hiệu quả kinh tế - xã hội; (vi) Tuân thủ pháp luật. Đồng thời, đề tài tổng hợp kinh nghiệm xuất khẩu lao động của Philippines, Hàn Quốc, Ấn Độ và kinh nghiệm của Đài Loan trong xây dựng chỉ tiêu phân loại, đánh giá chất lượng dịch vụ của các công ty môi giới tiếp nhận lao động nước ngoài (theo 3 nhóm chỉ tiêu: quản lý chất lượng, phục vụ khách hàng và các chỉ tiêu khác, kết hợp cộng - trừ điểm vi phạm), từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm có thể vận dụng cho Việt Nam về chủ trương và cơ sở pháp lý; cơ chế tổ chức, cấp giấy phép, tuyển chọn và quản lý lao động; chính sách quản lý tài chính; chính sách thị trường, đa dạng hóa ngành nghề và việc xây dựng các chỉ tiêu phân loại, đánh giá doanh nghiệp.

4.2. Chương II: Đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

            Chương này đánh giá thực trạng hoạt động và thực trạng đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài:

            Trên cơ sở khảo sát 60/177 doanh nghiệp có giấy phép hoạt động dịch vụ (số liệu khảo sát tháng 12/2012, kết hợp số liệu báo cáo của doanh nghiệp tại Cục Quản lý lao động ngoài nước năm 2012), đề tài phân tích thực trạng hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ trên các nội dung: phát triển thị trường (tập trung chủ yếu vào các thị trường truyền thống Nhật Bản – 65% doanh nghiệp tham gia, Malaysia – 46,67%, Đài Loan – 43,33%, Hàn Quốc – 8,33% và các thị trường khác – 33,33%; cách thức khai thác hợp đồng và tuyển chọn lao động); số lượng lao động đưa đi (phần lớn doanh nghiệp đưa dưới 500 lao động/năm, chỉ 8,33% doanh nghiệp đưa được trên 1.000 lao động/năm); năng lực cạnh tranh (quy mô doanh nghiệp chủ yếu vừa và nhỏ, cơ cấu tổ chức bộ máy xuất khẩu lao động, mức đầu tư cơ sở vật chất cho văn phòng và cơ sở đào tạo); công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cần thiết (tỷ lệ lao động qua đào tạo khác biệt rõ rệt theo thị trường, từ 5,2%-12,5% ở Malaysia đến 92%-100% ở thị trường châu Âu); công tác quản lý lao động và giải quyết phát sinh ở nước ngoài (số liệu lao động về nước trước hạn, bỏ trốn giai đoạn 2009-2011); hiệu quả kinh tế - xã hội (doanh thu, chi phí, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp, trong đó 40/60 doanh nghiệp kinh doanh có lãi, 13 doanh nghiệp thua lỗ; đóng góp giải quyết việc làm, giảm nghèo cho lao động thuộc các huyện nghèo); và tình hình thực hiện pháp luật về xuất khẩu lao động (xử phạt hành chính, khen thưởng).

            Trên cơ sở đó, đề tài phân tích thực trạng việc đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ hiện nay, chỉ ra các căn cứ đánh giá đang được sử dụng (số lượng lao động đưa đi; số liệu hồ sơ đăng ký hợp đồng cung ứng lao động; số liệu vụ việc phát sinh và kết quả giải quyết vụ việc; báo cáo tài chính, doanh thu phí dịch vụ và việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước) và cách thức tổ chức đánh giá hiện nay (qua thống kê đơn thư khiếu nại của người lao động, công tác thanh tra - kiểm tra định kỳ, hoạt động bình xét xếp hạng của Hiệp hội Xuất khẩu lao động Việt Nam dựa trên số lượng lao động đưa đi và việc triển khai thí điểm Bộ quy tắc ứng xử CoC-VN từ năm 2012).

            Từ thực trạng nêu trên, đề tài chỉ ra một số hạn chế, tồn tại cơ bản trong công tác đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ: công tác đánh giá tại cơ quan quản lý nhà nước mới chỉ dừng lại ở việc thống kê, tổng hợp số liệu báo cáo, mang tính định tính, chưa toàn diện; chưa có đánh giá đầy đủ về hiệu quả kinh tế và xã hội của hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chưa phản ánh được mức độ hài lòng của người lao động và gia đình người lao động; chưa có hệ thống theo dõi, giám sát hoạt động doanh nghiệp một cách sát sao, cập nhật, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý còn hạn chế; phần lớn doanh nghiệp chưa có hệ thống tự giám sát, đánh giá nội bộ; Bộ Quy tắc ứng xử CoC-VN không mang tính bắt buộc nên việc đăng ký tham gia và đánh giá chưa đồng bộ (mới có 96/177 doanh nghiệp đăng ký tham gia).

4.3. Chương III: Khuyến nghị áp dụng hệ thống tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

            Trên cơ sở yêu cầu của phát triển việc làm đàng hoàng ngoài nước và kết quả phân tích, đánh giá ở Chương I và Chương II, đề tài khuyến nghị áp dụng hệ thống tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài:

            Đề tài xác định mục tiêu và nguyên tắc đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ (giúp doanh nghiệp khắc phục các tồn tại, hoàn thành mục tiêu, kế hoạch kinh doanh và tăng cường khả năng cạnh tranh; đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước, chính sách, pháp luật), làm rõ quy trình quản trị phát triển xuất khẩu lao động tại doanh nghiệp (từ phát triển thị trường, tạo nguồn và tuyển chọn lao động xuất khẩu, đào tạo nghề - ngoại ngữ - giáo dục định hướng, quản lý lao động làm việc ở nước ngoài đến thanh lý hợp đồng và công tác thông tin, tuyên truyền). Trên cơ sở đó, đề tài xác định bộ chỉ tiêu cụ thể theo 6 tiêu chí đã đề xuất ở Chương I, gồm 32 chỉ tiêu: Tiêu chí 1 - Phát triển thị trường (5 chỉ tiêu); Tiêu chí 2 - Năng lực cạnh tranh (7 chỉ tiêu); Tiêu chí 3 - Tuyển chọn và đào tạo (6 chỉ tiêu); Tiêu chí 4 - Quản lý lao động ở nước ngoài (5 chỉ tiêu); Tiêu chí 5 - Hiệu quả kinh tế và xã hội (7 chỉ tiêu); Tiêu chí 6 - Tuân thủ pháp luật (2 chỉ tiêu); mỗi chỉ tiêu được định nghĩa rõ cách tính và nguồn số liệu (báo cáo của doanh nghiệp, số liệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước và Ban Quản lý lao động Việt Nam ở nước ngoài).

            Về phương pháp phân loại và đánh giá, đề tài đề xuất phương pháp chấm điểm theo mức độ quan trọng của từng nhóm tiêu chí trên thang điểm 100: nhóm tiêu chí Năng lực cạnh tranh và Tuyển chọn - đào tạo (4 điểm/chỉ tiêu); nhóm tiêu chí Phát triển thị trường và Quản lý lao động ngoài nước (3 điểm/chỉ tiêu); nhóm tiêu chí Hiệu quả kinh tế - xã hội và Tuân thủ pháp luật (2 điểm/chỉ tiêu); đồng thời quy định mức điểm trừ tương ứng đối với các chỉ tiêu có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu lao động. Căn cứ tổng điểm đạt được, doanh nghiệp được phân thành 5 nhóm theo khoảng điểm 20/100 để Cục Quản lý lao động ngoài nước tổ chức đánh giá, xếp hạng và công bố hàng năm, làm cơ sở cho việc cấp, đổi, gia hạn hoặc thu hồi giấy phép hoạt động dịch vụ.

            Đề tài cũng khuyến nghị các điều kiện áp dụng hệ thống tiêu chí: đối với cơ quan quản lý nhà nước cần luật hóa hệ thống tiêu chí, chuẩn hóa mẫu biểu báo cáo và quy trình giám sát, công khai minh bạch và áp dụng hệ thống cập nhật thông tin trực tuyến; đối với doanh nghiệp cần tăng cường tuân thủ pháp luật, nắm vững nội dung và cách thức vận hành hệ thống tiêu chí, nâng cao tinh thần trách nhiệm và đảm bảo tính trung thực khi cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý nhà nước. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ: về phía cơ quan quản lý nhà nước (hoàn thiện chính sách, pháp luật về xuất khẩu lao động; nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền; khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, đa dạng hóa hình thức và ngành nghề đưa đi; không ngừng tăng cường năng lực cho doanh nghiệp xuất khẩu lao động) và về phía doanh nghiệp (đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tiếp cận và khai thác thị trường; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và lao động; tăng cường huy động và sử dụng vốn có hiệu quả; xây dựng hệ thống quản lý chất lượng nguồn lao động cung cấp cho thị trường ngoài nước; tăng cường liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp dịch vụ).

Thành viên đề tài:

ThS. Tống Hải Nam, Cục Quản lý lao động ngoài nước; ThS. Trần Thị Vân Hà, Cục Quản lý lao động ngoài nước; ThS. Trần Anh Thư, Cục Quản lý lao động ngoài nước; ThS. Nguyễn Thanh Tùng, Cục Quản lý lao động ngoài nước; CN. Lê Ngọc Toàn, Cục Quản lý lao động ngoài nước; ThS. Võ Thị Thu Hà, Cục Quản lý lao động ngoài nước; CN. Thái Thị Hương, Cục Quản lý lao động ngoài nước.

Từ khóa: Doanh nghiệp dịch vụ Xuất khẩu lao động Tiêu chí phân loại Tiêu chí đánh giá Hiệu quả hoạt động

Tên file View
CB2011-01-05.pdf Đăng nhập để xem
Giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Tống Hải Nam

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Văn Thanh

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2012

Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hằng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường ĐHSPKTNĐ

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Phan Sỹ Nghĩa

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: ThS. Lưu Quang Tuấn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.s Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Giải pháp sử dụng hiệu quả lao động người cao tuổi

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Doãn Thị Mai Hương

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đánh giá 5 năm thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Hoàng Kim Ngọc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |