Nghiên cứu việc làm không được trả công của phụ nữ và trẻ em gái nhằm tăng cường bình đẳng giới ở Việt Nam

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Minh Hoà

Năm đăng ký: 2015

Năm nghiệm thu: 2016

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ về bình đẳng giới (BĐG) và đã được công nhận là quốc gia xoá bỏ khoảng cách giới nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Theo xếp hạng của Liên hiệp quốc về chỉ số bất bình đẳng giới (GII), thứ hạng của Việt Nam năm 2014 giảm sút so với năm 2013, đứng thứ 60/188 (UNDP, 2015a) so với 58/187 quốc gia năm 2013 (UNDP, 2014). Những thành tựu nổi bật nhất là tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (LLLĐ) của phụ nữ Việt Nam khá cao, khoảng cách giới trong xóa đói giảm nghèo, giáo dục và sản xuất được thu hẹp đáng kể. Bên cạnh những thành tựu, vẫn còn những thách thức như khoảng cách giới về mức độ tham gia của phụ nữ và nam giới trong công việc sản xuất và tái sản xuất, việc làm khu vực chính thức, phi chính thức và tiền lương, thu nhập.

Năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011–2020. Chiến lược này là một bộ phận cấu thành quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là nền tảng của chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Mục tiêu chung của chiến lược là đến năm 2020, về cơ bản Việt Nam bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Thực tế ở nhiều nơi và tại nhiều gia đình của Việt Nam, phụ nữ và trẻ em gái thường được xem là người có trách nhiệm chính đảm đương các công việc nội trợ và chăm sóc các thành viên trong gia đình, sự tham gia của nam giới trong công việc gia đình là khá thấp. Kết quả nghiên cứu kiến thức, thái độ và hành vi về vai trò của nam giới trong gia đình tại huyện Thường Tín (Hà Nội) và huyện Yên Bình (Yên Bái) do Trung tâm Nghiên cứu Hỗ trợ gia đình và Phát triển cộng đồng (CFSCD) thực hiện năm 2013 cho thấy, thời gian làm việc nội trợ của vợ là 84,5%, chồng là 46,0% (Võ Thủy, 2013). Đó là những công việc không được trả công và không được xã hội đánh giá cao. Kết quả là phụ nữ và trẻ em gái hạn chế thời gian để học tập, làm việc nâng cao thu nhập hoặc tham gia vào quá trình ra quyết định ở cộng đồng. Điều này có thể đặt phụ nữ và trẻ em gái trước rủi ro bị đẩy sâu hơn vào vai trò thứ yếu.

Mặc dù ở Việt Nam, nữ giới chiếm tỷ trọng gần bằng nam giới trong tổng số lao động của cả nước (48,7% năm 2014), nhưng lại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động cho gia đình không hưởng lương – một công việc dễ bị tổn thương (60,4%). Thu nhập bình quân của lao động nữ bằng khoảng 77% lao động nam. Công việc gia đình vẫn được coi là công việc không được trả công (KĐTC) và phần lớn đều do phụ nữ đảm nhận. Công việc chăm sóc gia đình đã hạn chế phụ nữ tham gia vào việc làm được trả công, nơi nào còn tồn tại các định kiến nặng nề về vai trò giới thì nơi đó tỷ lệ tham gia lao động KĐTC của nữ giới càng cao.

Nhận thấy bất BĐG là nguyên nhân dẫn đến sự phân biệt đối xử và hạn chế tiếp cận các nguồn lực phát triển của nữ giới, việc chọn đề tài "Nghiên cứu việc làm không được trả công của phụ nữ và trẻ em gái nhằm tăng cường bình đẳng giới ở Việt Nam" là hết sức cần thiết trong bối cảnh phát triển kinh tế theo hướng bền vững, bao gồm việc đòi hỏi phải phân công lại công việc KĐTC một cách phù hợp, tăng cơ hội tiếp cận việc làm, thu nhập và các dịch vụ xã hội cơ bản cho phụ nữ và trẻ em gái.

2. Mục tiêu nghiên cứu

a. Mục tiêu chung:

Phân tích và đánh giá thực trạng việc làm không được trả công của phụ nữ và trẻ em gái, mối quan hệ giữa công việc KĐTC với bình đẳng giới, và đề xuất các giải pháp chính sách nhằm giảm gánh nặng công việc KĐTC cho phụ nữ và trẻ em gái, từ đó tăng cường BĐG ở Việt Nam.

    b. Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công việc không được trả công và bình đẳng giới; rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng chính sách hỗ trợ phụ nữ và trẻ em gái nhằm giảm các công việc KĐTC.

- Đánh giá thực trạng công việc KĐTC của phụ nữ và trẻ em gái ở Việt Nam và mối quan hệ giữa công việc KĐTC với BĐG, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công việc KĐTC.

- Khuyến nghị các giải pháp chính sách hỗ trợ phụ nữ và trẻ em gái để giảm các công việc KĐTC nhằm tăng cường BĐG ở Việt Nam.

3. Kết cấu của đề tài Gồm 3 chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công việc không được trả công và bình đẳng giới.

- Chương 2: Thực trạng công việc không được trả công của phụ nữ và trẻ em gái và bình đẳng giới ở Việt Nam.

- Chương 3: Khuyến nghị giải pháp chính sách hỗ trợ phụ nữ và trẻ em gái để giảm các công việc không được trả công nhằm tăng cường bình đẳng giới ở Việt Nam.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công việc không được trả công và bình đẳng giới

Chương 1 xây dựng khung lý luận toàn diện về công việc không được trả công và bình đẳng giới. Đề tài làm rõ hệ thống các khái niệm gồm: việc làm, công việc, công việc không được trả công, chi phí cơ hội, vai trò giới (sản xuất, tái sản xuất, cộng đồng) và bình đẳng giới trong các lĩnh vực quản lý lãnh đạo, giáo dục đào tạo, việc làm và thu nhập.

Đề tài phân tích vai trò của công việc KĐTC theo năm chiều: (i) là "chất keo" xã hội gắn kết cộng đồng; (ii) nâng cao chất lượng cuộc sống các thành viên gia đình; (iii) giúp người sử dụng lao động duy trì và tái tạo sức lao động; (iv) cung cấp hàng hóa, dịch vụ hỗ trợ sản xuất kinh doanh; (v) giảm gánh nặng cho chính phủ trong cung cấp dịch vụ công. Công việc KĐTC được phân thành bốn loại hình: tình nguyện vì cộng đồng; công việc cho gia đình không hưởng lương; làm việc nhà; và chăm sóc, nuôi dưỡng thành viên gia đình.

Đề tài trình bày các phương pháp xác định và đo lường giá trị công việc KĐTC gồm: phương pháp hạch toán GDP mở rộng, phương pháp điều tra sử dụng thời gian, và phương pháp đánh giá chi phí thay thế. Đồng thời, chương phân tích bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng đến công việc KĐTC: định kiến giới; đặc điểm cá nhân và gia đình; phát triển cơ sở hạ tầng; và truyền thông về bình đẳng giới. Đề tài cũng hệ thống hóa kinh nghiệm quốc tế từ các nước phát triển và đang phát triển trong xây dựng chính sách hỗ trợ phụ nữ và trẻ em gái nhằm giảm công việc KĐTC, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

4.2. Chương 2: Thực trạng công việc không được trả công của phụ nữ và trẻ em gái và bình đẳng giới ở Việt Nam

Chương 2 đánh giá toàn diện thực trạng công việc KĐTC và bình đẳng giới ở Việt Nam trên cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia và khảo sát định tính. Về khung chính sách, đề tài rà soát các công ước quốc tế Việt Nam đã phê chuẩn (Tuyên ngôn nhân quyền 1948, Công ước CEDAW 1979, Công ước 156 ILO về người lao động có trách nhiệm gia đình, Cương lĩnh Bắc Kinh 1995) và hệ thống chính sách trong nước (Hiến pháp 2013, Luật Bình đẳng giới 2006, Chiến lược quốc gia về BĐG giai đoạn 2011–2020, Bộ Luật Lao động 2012).

Về thực trạng lao động gia đình không hưởng lương, số liệu điều tra lao động việc làm năm 2014 cho thấy, tỷ lệ này có xu hướng biến động: từ 19,4% năm 2010 xuống 17,2% năm 2013, rồi tăng lên 21,4% năm 2014. Nữ giới chiếm 60,4% tổng số lao động gia đình không hưởng lương, và chênh lệch giới trong hình thức việc làm này cao hơn ở khu vực nông thôn và nhóm dân tộc thiểu số. Về sử dụng thời gian, bình quân nữ giới dành nhiều thời gian hơn nam giới ở tất cả các hoạt động gia đình: dọn dẹp nhà cửa (0,97 giờ/ngày so với 0,53 giờ), nấu ăn (1,51 giờ so với 0,38 giờ), chăm sóc trẻ em (2,37 giờ so với 0,78 giờ), đi chợ (0,37 giờ so với 0,03 giờ).

Đề tài đánh giá bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng đến công việc KĐTC: (1) Định kiến giới – đến năm 2015, vẫn còn 79% thanh niên nam cho rằng vai trò quan trọng nhất của phụ nữ là chăm sóc gia đình; (2) Đặc điểm cá nhân và gia đình – trình độ học vấn thấp, hộ nông nghiệp, gia đình có con nhỏ hoặc người cao tuổi làm gia tăng gánh nặng KĐTC cho nữ giới; (3) Cơ sở hạ tầng – còn thiếu và yếu, đặc biệt ở nông thôn, chỉ 20,5% hộ nông thôn sở hữu máy giặt, hệ thống trường mầm non công lập chưa đáp ứng nhu cầu; (4) Truyền thông về BĐG – chưa đồng đều, nhiều nơi chưa chú trọng đến nội dung chia sẻ công việc gia đình giữa các thành viên.

Phân tích mối quan hệ giữa công việc KĐTC và bình đẳng giới cho thấy: tỷ lệ tham gia LLLĐ của nữ giới năm 2014 đạt 73,2% (nam giới là 82,1%), nội trợ là lý do không tham gia kinh tế của 28,52% nữ giới nhưng chỉ 1,85% nam giới. Tiền lương bình quân của lao động nữ bằng khoảng 77% lao động nam. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội còn thấp hơn mục tiêu đề ra. Thời gian nghỉ ngơi, giải trí và học tập của nữ giới ít hơn nam giới đáng kể do gánh nặng công việc KĐTC. Trẻ em gái tham gia việc nhà nhiều hơn trẻ em trai, ảnh hưởng đến thời gian đến trường.

4.3. Chương 3: Khuyến nghị giải pháp chính sách hỗ trợ phụ nữ và trẻ em gái để giảm công việc không được trả công nhằm tăng cường bình đẳng giới ở Việt Nam

Chương 3 phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội giai đoạn 2016–2020 và xu hướng việc làm KĐTC. Dự báo tăng trưởng kinh tế cao, đô thị hóa và hội nhập ASEAN sẽ tạo thêm cơ hội việc làm được trả công cho nữ giới, đặc biệt ở khu vực thành thị. Tuy nhiên, ở vùng nông thôn và miền núi (chiếm gần 2/3 dân số đến năm 2020), tình trạng bất BĐG trong công việc KĐTC dự báo còn giảm chậm. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất sáu nhóm giải pháp chủ yếu:

- Hoàn thiện chính sách hỗ trợ đối với công việc không được trả công của phụ nữ và trẻ em gái: Rà soát, sửa đổi các quy định trong Luật BĐG, Bộ Luật Lao động, Luật Hôn nhân và Gia đình theo hướng cụ thể hóa nghĩa vụ chia sẻ công việc gia đình; bổ sung hệ thống số liệu thống kê quốc gia về sử dụng thời gian và đưa hoạt động KĐTC vào hạch toán quốc gia.

- Tăng cường tuyên truyền giáo dục bình đẳng giới về trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình: Đẩy mạnh truyền thông về chia sẻ công việc gia đình giữa các thành viên, lồng ghép nội dung này vào chương trình giáo dục nhà trường.

- Thay đổi các thông điệp truyền thông hiện có về "vai trò nội tướng" của phụ nữ: Xây dựng và triển khai các chiến dịch truyền thông khuyến khích nam giới chia sẻ việc nhà, thay đổi quan niệm xã hội về vai trò giới trong gia đình.

- Tăng cường hoạt động giáo dục đào tạo và cơ chế khuyến khích nữ giới tham gia vào nhiều ngành nghề khác nhau: Mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục và đào tạo nghề cho phụ nữ, đặc biệt là dân tộc thiểu số và khu vực nông thôn; đa dạng hóa các ngành nghề mà phụ nữ có thể tham gia.

- Cải thiện cơ sở hạ tầng hỗ trợ đối với công việc không được trả công của phụ nữ và trẻ em gái: Phát triển mạng lưới trường mầm non, nhà trẻ công lập và tư thục; cung cấp nước sạch, điện và các dịch vụ thiết yếu; quản lý tốt các dịch vụ giúp việc gia đình chuyên nghiệp.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm về quyền của phụ nữ tại nơi làm việc: Xây dựng đội ngũ thanh tra lao động có nhận thức tốt về BĐG; xử lý nghiêm các hành vi phân biệt đối xử dựa trên giới tính, đặc biệt là phân biệt đối xử dựa trên tình trạng hôn nhân và mang thai.

Thành viên đề tài:

Từ khóa: Việc làm không được trả công công việc gia đình không hưởng lương bình đẳng giới phụ nữ trẻ em gái định kiến giới lao động tái sản xuất thị trường lao động chính sách hỗ trợ Việt Nam

Tên file View
CB2015-09-0.pdf Đăng nhập để xem
Nghiên cứu, xây dựng quy trình kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Đào Thị Ngọc Lợi

Lĩnh vực: Chính sách người có công và bình đẳng giới

Năm hoàn thành: 2022

Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý trường hợp đối với trẻ em cần sự bảo vệ

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Thị Nhung

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Thiết kế và chế tạo hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Hoàng Anh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới chính sách ưu đãi người có công trong tình hình mới

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Bác sỹ CKII. Đào Ngọc Lợi

Lĩnh vực: Chính sách người có công và bình đẳng giới

Năm hoàn thành: 2021

Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đề xuất giải pháp thúc đẩy việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Chí Trường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp phát triển đào tạo kỹ năng số cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |