Nghiên cứu giải pháp mở rộng đối tượng tham gia và cơ chế hoạt động quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Chủ nhiệm: Ths. Chử Thị Lân

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2016

Tóm tắt:

Nghiên cứu giải pháp mở rộng đối tượng tham gia và cơ chế hoạt động quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Chủ nhiệm: Ths. Chử Thị Lân

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2016

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển và hội nhập kinh tế với sự phát triển đa dạng của nhiều ngành nghề và sự thay đổi của khoa học công nghệ, tình hình tai nạn lao động (TNLĐ) và bệnh nghề nghiệp (BNN) diễn biến ngày các phức tạp. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) ước tính mỗi năm có 2,34 triệu người chết liên quan đến thương tích và bệnh nghề nghiệp (BNN), trong đó số người chết do tai nạn lao động (TNLĐ) là trên 350,000 nghìn người. Bên cạnh đó, mỗi năm còn có 317 triệu tai nạn không gây tử vong. Tai nạn và bệnh liên quan đến nghề nghiệp gây thiệt hại khoảng 4% GDP toàn cầu, tương đương với 2,8 ngàn tỷ USD mỗi năm (ILO, 2012). Người lao động cũng bị ảnh hưởng lớn về chi phí, chịu đau đớn, mất khả năng lao động. Tai nạn lao động (TNLĐ) và bệnh nghề nghiệp (BNN) ở nước ta cũng đang trở thành mối lo ngại của toàn xã hội trong lĩnh vực lao động. Tỷ lệ lao động bị TNLĐ, BNN không thuyên giảm, trong khi đó, số vụ TNLĐ và BNN làm chết người lại ngày càng gia tăng. Việc đảm bảo một môi trường an toàn cho sản xuất cũng như có được chính sách hỗ trợ người lao động khi họ gặp TNLĐ hay mắc BNN luôn được coi trọng. Chính vì vậy, chế độ trợ cấp về TNLĐ và BNN đã ra đời như một tất yếu khách quan.

Việc bồi thường TNLĐ và BNN được quy định trong Bộ luật Lao động (năm 1994, 2002, 2012) và Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2006, 2014) dưới dạng chế độ TNLĐ, BNN được sử dụng từ nguồn Quỹ TNLĐ, BNN trong hệ thống Quỹ bảo hiểm xã hội. Mới đây, Quỹ TNLĐ, BNN đã được nêu cụ thể trong Luật An toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) (được Quốc Hội thông qua ngày 25/6/2015 và chính thức có hiệu lực từ 01/7/2016), trong đó, chuyển toàn bộ 20 điều về chính sách chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN từ Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 sang Luật ATVSLĐ và thêm 2 điều chi bổ sung: (i) chi cho đối tượng những người bị TNLĐ, BNN không còn khả năng làm việc muốn chuyển đổi nghề nghiệp sẽ hỗ trợ 50% học phí để cho họ được học nghề và chuyển sang nghề mới phù hợp hơn, giúp họ tái hoà nhập cuộc sống, đảm bảo quyền lợi; (ii) chi cho công tác phòng ngừa, tập trung vào công tác tuyên truyền, huấn luyện cho người lao động biết phòng tránh TNLĐ và được khám phát hiện BNN kịp thời. Đây là bước thay đổi rất lớn nhằm đảm bảo ba trụ cột phòng ngừa, bồi thường TNLĐ, BNN và phục hồi tái hòa nhập thị trường lao động.

Chính sách liên quan đến chế độ cho người lao động bị TNLĐ, BNN dần được hoàn thiện nhưng vẫn còn hạn chế: Độ bao phủ của chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN còn thấp, trong thực tế chế độ này vẫn chưa bao phủ hết được các đối tượng được quy định trong khu vực chính thức. Tính đến hết năm 2015, cả nước có trên 12,4 triệu người tham gia BHXH, chiếm khoảng 22,3% lực lượng lao động. Ngoài ra, hoạt động của Quỹ TNLĐ, BNN hiện nay còn nhiều vấn đề chưa hợp lý có thể thấy được qua kết quả chi hàng năm của quỹ nhiều năm đều chỉ xấp xỉ ở mức 10-11% so với thu, thủ tục xác định đối tượng hưởng còn phức tạp, thông tin chi tiết còn chưa đến được người lao động gây khó khăn trong quá trình tiếp cận khi tham gia, hoặc khi hưởng quyền lợi... Trước những vấn đề trên, Quỹ TNLĐ, BNN đứng trước yêu cầu phải có những thay đổi, cải tiến về cơ chế hoạt động; điều chỉnh các chính sách đóng, hưởng cũng như các giải pháp khác để đáp ứng yêu cầu thực tiễn cũng như mục tiêu Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 18 triệu người lao động tham gia chế độ TNLĐ, BNN đưa ra trong Chiến lược phát triển ngành BHXH đến năm 2020.

Đã có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến chế độ bồi thường và bảo hiểm TNLĐ, BNN, các nghiên cứu này đã có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn trong tiến trình hoàn thiện chính sách cũng như lựa chọn giải pháp triển khai thực hiện tối ưu. Tuy nhiên, giải pháp mở rộng độ bao phủ đối tượng tham gia Quỹ TNLĐ, BNN cũng như cơ chế sử dụng quỹ chưa được đề cập đến. Vì vậy, nghiên cứu về giải pháp mở rộng đối tượng tham gia quỹ TNLĐ, BNN và cơ chế hoạt động quỹ là cần thiết nhằm đưa ra được những giải pháp về việc mở rộng đối tượng, khuyến khích sự tham gia cũng như cơ chế hoạt động và sử dụng Quỹ TNLĐ, BNN một cách hợp lý và bền vững.

2. Mục tiêu nghiên cứu

a. Mục tiêu chung: Đề xuất hệ thống giải pháp mở rộng đối tượng tham gia và hoàn thiện cơ chế hoạt động Quỹ TNLĐ, BNN.

b. Mục tiêu cụ thể:

Nghiên cứu giải pháp gia tăng đối tượng tham gia BHXH đã được quy định trong Luật BHXH và tiến tới mở rộng đối tượng tham gia thuộc nhóm không có quan hệ lao động.

Nghiên cứu giải pháp hoàn thiện cơ chế hoạt động quỹ: mức đóng - hưởng, cân bằng quỹ, các chế độ hưởng, cơ chế quản lý quỹ và vai trò của các bên liên quan.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về gia tăng đối tượng tham gia và cơ chế hoạt động quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Chương II: Đánh giá thực trạng tham gia và cơ chế hoạt động quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp giai đoạn 2009-2015.

Chương III: Dự báo đối tượng tham gia, cân bằng quỹ đến 2030 và đề xuất các giải pháp mở rộng đối tượng tham gia và cơ chế hoạt động quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương I: Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về gia tăng đối tượng tham gia và cơ chế hoạt động quỹ TNLĐ, BNN

Đề tài hệ thống hóa các khái niệm cơ bản về TNLĐ, BNN và Quỹ BHXH. Gia tăng đối tượng tham gia được định nghĩa là việc nâng cao tỷ lệ bao phủ thực tế (nâng cao tỷ lệ đóng của đối tượng hiện tại) và mở rộng độ bao phủ theo luật định (như lao động nông nghiệp, khu vực phi chính thức). Cơ chế hoạt động quỹ bao gồm các quy trình vận hành từ thu, chi, đầu tư đến cân bằng quỹ nhằm đảm bảo các chức năng: phòng ngừa rủi ro, bồi thường thiệt hại và phục hồi khả năng lao động.

Đề tài phân tích 3 mô hình bảo hiểm TNLĐ, BNN phổ biến trên thế giới: (i) Nằm trong hệ thống BHXH thuần túy; (ii) Bảo hiểm nghề nghiệp (phổ biến nhất, tách biệt rủi ro nghề nghiệp); (iii) Chế độ đóng góp dựa trên rủi ro. Kinh nghiệm từ Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản và Đức cho thấy xu hướng chung là mở rộng dần hình thức bắt buộc sang cả nhóm tự làm và lao động gia đình. Bài học rút ra cho Việt Nam là cần áp dụng mức đóng linh hoạt dựa trên xác suất rủi ro của từng ngành nghề và doanh nghiệp, đồng thời tăng cường vai trò của các khoản chi cho phòng ngừa và phục hồi chức năng thay vì chỉ tập trung trợ cấp sau tai nạn.

4.2. Chương II: Đánh giá thực trạng tham gia và cơ chế hoạt động quỹ TNLĐ, BNN giai đoạn 2009-2015

Chế độ TNLĐ, BNN tại Việt Nam có lịch sử phát triển lâu dài, hiện được quy định chính thức trong Luật BHXH và Luật ATVSLĐ. Tuy nhiên, thực trạng giai đoạn 2009-2015 bộc lộ nhiều hạn chế đáng kể:

Về diện bao phủ: Số người tham gia BHXH bắt buộc tăng nhưng vẫn ở mức thấp, năm 2015 mới đạt 12,07 triệu người, chiếm khoảng 22,3% lực lượng lao động. Tỷ lệ tuân thủ ở khu vực tư nhân chỉ đạt 59,3%. Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp trốn đóng, lách luật bằng hợp đồng ngắn hạn hoặc thỏa thuận miệng (chiếm tới 40,76% lao động làm công hưởng lương).

Về hoạt động quỹ: Có sự mất cân đối nghiêm trọng giữa thu và chi. Tỷ lệ chi/thu luôn duy trì ở mức rất thấp, chỉ khoảng 10-11% (năm 2015 thu 5,54 nghìn tỷ nhưng chi chỉ 563 tỷ đồng). Điều này cho thấy thiết kế mức đóng (1% quỹ lương) và mức hưởng chưa thực sự hợp lý, hoặc do thủ tục hưởng quyền lợi quá rườm rà, gây khó khăn cho người lao động.

Về tình hình tai nạn và giải quyết chế độ: TNLĐ có xu hướng tăng về cả số vụ và số người chết. Tuy nhiên, tỷ lệ người bị nạn được hưởng chế độ bảo hiểm theo báo cáo chỉ đạt khoảng 30%. Công tác giám định BNN còn rất hạn chế, chỉ khoảng 7-10% người lao động nghi mắc bệnh được đi giám định do DN trốn tránh đo đạc môi trường lao động.

4.3. Chương III: Dự báo và đề xuất giải pháp mở rộng đối tượng và cơ chế hoạt động quỹ

Dựa trên các giả định về tăng trưởng lương và lãi suất đầu tư, đề tài dự báo đến năm 2020 số người tham gia đạt 18 triệu người và đến 2030 đạt 24,5 triệu người. Đề tài xây dựng 3 phương án dự báo cân đối quỹ khi điều chỉnh mức đóng xuống 0,5% từ năm 2018 và bổ sung các khoản chi phòng ngừa, chuyển đổi nghề nghiệp. Kết quả cho thấy cả 3 phương án đều đảm bảo cân bằng thu-chi đến sau năm 2040, chứng minh tính khả thi của việc giảm mức đóng mà vẫn đảm bảo an toàn quỹ.

Hệ thống giải pháp đề xuất bao gồm:

Mở rộng đối tượng: Đẩy mạnh thực thi pháp luật ở khu vực chính thức thông qua chế tài hình sự và công khai thông tin đóng bảo hiểm. Xây dựng cơ chế bảo hiểm TNLĐ tự nguyện linh hoạt cho khu vực phi chính thức với sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.

Hoàn thiện cơ chế hoạt động: Chuyển đổi phương thức đóng phí sang mức đóng dựa trên xác suất rủi ro ngành nghề (phân loại 4 nhóm ngành từ hành chính đến nguy cơ cao như khai khoáng, xây dựng).

Hạch toán độc lập: Thành lập Quỹ TNLĐ, BNN chuyên môn hóa cao, tập trung đầu tư vào lĩnh vực sản xuất thiết bị ATVSLĐ để vừa sinh lợi vừa phục vụ mục tiêu phòng ngừa.

Cải cách quản lý: Mở rộng bộ máy đến cấp xã, ứng dụng giao dịch điện tử và kết nối phần mềm quản lý thu với phần mềm nhân sự của doanh nghiệp để quản lý chặt chẽ đối tượng tham gia.

Thành viên đề tài:

o Ths. Nguyễn Thanh Vân, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; o Ths. Nguyễn Thị Thu Hường, Cục An toàn lao động; o Ths. Đặng Thìn Hùng, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; o Ths. Nguyễn Khánh Long, Cục An toàn lao động; o CN. Đỗ Minh Hải, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; o CN. Trịnh Hoàng Hiếu, Viện Khoa học Lao động và Xã hội.

Từ khóa: Quỹ tai nạn lao động Cơ chế đóng - hưởng. bệnh nghề nghiệp Bảo hiểm xã hội Luật An toàn vệ sinh lao động

Giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Tống Hải Nam

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Văn Thanh

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2012

Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hằng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường ĐHSPKTNĐ

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Phan Sỹ Nghĩa

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: ThS. Lưu Quang Tuấn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.s Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Giải pháp sử dụng hiệu quả lao động người cao tuổi

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Doãn Thị Mai Hương

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đánh giá 5 năm thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Hoàng Kim Ngọc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |