Nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế
Chủ nhiệm:
ThS. Lưu Quang Tuấn
Năm đăng ký:
2013
Năm nghiệm thu:
2014
Tóm tắt:
1. Tính cáp thiết của đề tài
Sau gần 3 thập kỷ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều mặt. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2011 là 7,16%; GDP theo giá thực tế năm 2011 gấp hơn 3,8 lần so với năm 2000; Việt Nam trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp từ năm 2010. Tăng trưởng kinh tế đã thúc đẩy giảm nghèo nhanh, năm 2011 số hộ nghèo giảm xuống còn khoảng gần 12%; cơ cấu kinh tế chuyển đổi tích cực theo hướng hiện đại; cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội đã được cải thiện đáng kể cả về số lượng và chất lượng; một số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao đã hình thành và bước đầu phát triển.
Tuy vậy, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Sản xuất công nghiệp phần lớn còn ở công đoạn gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng chưa cao. Các sản phẩm có đóng góp lớn vào GDP và kim ngạch xuất khẩu chủ yếu thuộc những ngành thâm dụng lao động như nông nghiệp, thủy sản và khoáng sản, các sản phẩm công nghiệp sơ chế và dịch vụ phục vụ tiêu dùng. Hiệu quả đầu tư và năng suất lao động còn thấp; chưa thu hẹp được khoảng cách về năng suất lao động so với các nước trong khu vực.
Những năm gần đây, nước ta chịu ảnh hưởng nhiều bởi cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và sự bất ổn kinh tế vĩ mô trong nước. Những yếu kém vốn có của nền kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nói riêng, chậm được khắc phục. Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI) từ ngày 6-10/10/2011 đã bàn và quyết định tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Theo đó, trong 5 năm tới, việc cơ cấu lại nền kinh tế tập trung vào 3 lĩnh vực quan trọng nhất là: tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại; và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước.
Tái cơ cấu nền kinh tế là đòi hỏi tất yếu nhưng quá trình này đang và sẽ có ảnh hưởng đến vấn đề lao động xã hội theo các hướng sau:
Tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công, trong ngắn hạn có tác động đến khả năng tạo và duy trì việc làm của một số ngành, lĩnh vực bị cắt giảm đầu tư trực tiếp và có thể là cả số và chất lượng việc làm ở một số ngành liên quan do hiệu ứng lan tỏa. Tuy vậy, với việc tăng hiệu quả của đầu tư công thì chất lượng việc làm sẽ được tăng cường.
Cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại, phát triển thị trường vốn, điều chỉnh khung lãi suất huy động, lãi suất cho vay và tỷ giá hối đoái… tạo điều kiện để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn hơn, đang và sẽ có ảnh hưởng đến khả năng tạo việc làm của nền kinh tế. Tuy vậy, tính an ninh và linh hoạt của việc làm vì thế cũng được củng cố cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước với trọng tâm là thu hẹp một số lĩnh vực đầu tư, chuyển giao cho đầu tư tư nhân, đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp… để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung. Vấn đề lao động dôi dư, lao động phải chuyển đổi việc làm nảy sinh trong quá trình tái cấu trúc này là không thể tránh khỏi. Tuy vậy, hệ thống doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả hơn đồng nghĩa với chất lượng việc làm và thu nhập của người lao động trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước sẽ được cải thiện hơn.
Tái cơ cấu kinh tế sẽ đem lại những cơ hội và thách thức tới vấn đề việc làm và thu nhập, năng suất và tiền lương, đời sống của người lao động. Vì vậy, nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế là cần thiết để cung cấp bằng chứng cho việc xây dựng và điều chỉnh các chính sách lao động và xã hội phù hợp với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế đến năm 2020.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nhận diện và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế; nghiên cứu cơ chế tác động và đo lường mức độ ảnh hưởng từ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế đến việc làm, thất nghiệp, năng suất lao động và bất bình đẳng.
Các giải pháp thích ứng về lao động và xã hội đối với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế để đảm bảo phát triển kinh tế bền vững và an sinh xã hội.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về phân tích ảnh hưởng của tái cơ cấu đến vấn đề lao động xã hội.
Chương II: Thực trạng và dự báo ảnh hưởng của tái cơ cấu nền kinh tế đến vấn đề lao động xã hội.
Chương III: Một số định hướng giải pháp.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương I: Cơ sở lý luận về phân tích ảnh hưởng của tái cơ cấu đến vấn đề lao động xã hội
Đề tài hệ thống hóa các khái niệm về cơ cấu kinh tế và tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó thống nhất sử dụng quan điểm tái cơ cấu là quá trình cải tổ nhằm phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm vào khu vực sản xuất năng động. Ba trụ cột chính được xác định là: tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tái cơ cấu ngân hàng thương mại (NHTM).
Khung phân tích tác động được xây dựng dựa trên hai góc độ: tác động đến yếu tố đầu vào (vốn, lạm phát, cán cân tài khóa) và đầu ra của tăng trưởng (phân bổ đầu tư theo ngành/địa phương), từ đó ảnh hưởng đến cầu lao động, tiền lương và năng suất. Đề tài ứng dụng mô hình ILSSA-MS (mô hình cân bằng tổng thể CGE tĩnh) để mô phỏng sự biến động của 113 ngành và 26 nghề.
Về kinh nghiệm quốc tế, đề tài phân tích bài học từ Hàn Quốc (giai đoạn khủng hoảng 1997) với chiến lược cạnh tranh thông qua hợp tác giữa Chính phủ - Doanh nghiệp - Lao động và việc mở rộng mạng lưới an sinh xã hội cho người thất nghiệp. Kinh nghiệm của Trung Quốc làm nổi bật việc xử lý lao động dôi dư trong cải cách DNNN thông qua cổ phần hóa và các quỹ bảo trợ xã hội.
4.2. Chương II: Thực trạng và dự báo ảnh hưởng của tái cơ cấu nền kinh tế đến vấn đề lao động xã hội
Phân tích thực trạng cho thấy trong giai đoạn 2011-2014, kinh tế vĩ mô có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn đối mặt với thách thức nợ công tăng và sức cầu yếu. Dù lực lượng lao động cả nước đạt 53,8 triệu người vào năm 2014, nhưng chất lượng việc làm vẫn là thách thức lớn khi lao động nông nghiệp chiếm tới 46,3% và lao động giản đơn chiếm trên 40%.
Về các trụ cột tái cơ cấu:
Đầu tư công: Tỷ trọng vốn đầu tư công trong GDP giảm từ 15,9% (2007) xuống duy trì mức 12,3% (2011-2014). Kết quả mô phỏng cho thấy chính sách thắt chặt đầu tư công làm giảm nhẹ GDP (0,02%) và tổng việc làm (0,017%), trong đó ngành xây dựng chịu tác động tiêu cực nhất (-1,27%).
Doanh nghiệp nhà nước: Quá trình cổ phần hóa (CPH) giúp cải thiện chất lượng lao động và động lực làm việc (hơn 64% DN sau CPH có trình độ kỹ thuật công nhân tốt hơn). Tuy nhiên, tiền lương và năng suất của DN đã CPH vẫn thấp hơn DN chưa CPH do gánh nặng lao động dôi dư chưa được xử lý triệt để (như trường hợp VNPT còn 4.000 lao động dôi dư).
Hệ thống NHTM: Quá trình sáp nhập và hợp nhất làm giảm quy mô lao động đáng kể (năm 2012 giảm 1/3 so với 2011). Ước lượng cho thấy khi vốn vay từ NHTM tăng 1%, lao động trong doanh nghiệp giảm 0,01% do doanh nghiệp có xu hướng đầu tư vào công nghệ thay thế lao động thủ công, nhưng lại giúp tăng tiền lương (0,01%) và năng suất (0,04%).
4.3. Chương III: Một số định hướng giải pháp
Trong bối cảnh kinh tế thế giới bất định và áp lực lạm phát trong nước, đề tài đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ:
Phát triển nguồn nhân lực: Đổi mới nội dung dạy nghề theo hướng nâng cao năng lực thực hiện; quy hoạch lại mạng lưới trường đại học, cao đẳng gắn với nhu cầu thị trường. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo và đánh giá kỹ năng thông qua cơ chế khấu trừ thuế.
Hoàn thiện thể chế thị trường lao động: Tiến tới xóa bỏ chế độ hộ khẩu để hỗ trợ di chuyển lao động; xây dựng Luật Tiền lương tối thiểu và tách biệt khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành chính sự nghiệp.
Chính sách đặc thù: Hoàn thiện cơ chế xử lý lao động dôi dư khi cổ phần hóa DNNN (Nghị định 91/2010/NĐ-CP và 59/2011/NĐ-CP) nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích. Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động và các sàn giao dịch việc làm hiện đại để kết nối cung - cầu hiệu quả hơn.
Thành viên đề tài:
ThS. Phạm Ngọc Toàn (Viện Khoa học Lao động và Xã hội); TS. Nguyễn Thắng (TT Phân tích và Dự báo, Viện KHXHVN); ThS. Ngô Thị Minh Tâm (TT Phân tích và Dự báo, Viện KHXHVN); CN. Đinh Thị Vân (Viện Khoa học Lao động và Xã hội); ThS. Phạm Xuân Thu (Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề); ThS. Nguyễn Thị Luyến (Viện Quản lý Kinh tế Trung ương).
Từ khóa:
Tái cơ cấu kinh tế Lao động xã hội Đầu tư công Doanh nghiệp nhà nước Ngân hàng thương mại Việc làm Tiền lương Năng suất lao động