Nghiên cứu các mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp trên thế giới và một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam
Chủ nhiệm:
PGS.TS. Mạc Văn Tiến
Năm đăng ký:
2016
Năm nghiệm thu:
2017
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo "Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2013 - 2014" (GCI) do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố đầu năm 2014, năng lực cạnh tranh của Việt Nam đứng thứ 70/148 quốc gia xếp hạng, nếu so với năm 2013 thì đã tăng 5 bậc, song vẫn ở mặt bằng thấp, chậm cải thiện và thấp hơn nhiều quốc gia trong khu vực được xếp hạng (Ví dụ: Singapore (thứ 2), Malaysia (24), Brunei (26), Thái Lan (37), Indonesia (38) và Philippines (59). Các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á có xếp hạng sau Việt Nam là Lào (81), Campuchia (88) và Myanmar (139). Theo đó, Việt Nam hiện chỉ được xếp vào nhóm nước đang phát triển ở giai đoạn đầu (factor driven economy). Ở giai đoạn này, 60% năng lực cạnh tranh được quyết định bởi 4 trong số 12 nhóm chỉ tiêu nêu trên là: Thể chế, Cơ sở hạ tầng, Kinh tế vĩ mô, Y tế, Đào tạo và giáo dục đại học. Tuy nhiên, 3 chỉ tiêu được coi là yếu kém nhất của Việt Nam lại nằm trong 4 yếu tố nêu trên là: Cơ sở hạ tầng (thứ 82 với 3,7 điểm), Đào tạo và giáo dục đại học (thứ 95 với 3,7 điểm) và Tiếp thu công nghệ (thứ 102 với 3,1 điểm). Ba chỉ tiêu yếu kém này có quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau và nguồn gốc sâu xa và suy cho cùng đều thuộc về con người. Và như vậy, sẽ thật là dễ hiểu khi giáo dục, đào tạo yếu kém không chỉ làm cho 2 chỉ tiêu khác yếu kém, mà có thể làm cho nhiều yếu tố khác nữa cũng có thể yếu kém.
Phân tích về năng lực cạnh tranh, các chuyên gia đều cho rằng, năng suất lao động là yếu tố trung tâm cốt lõi của năng lực cạnh tranh. Năng suất lao động là khả năng tạo ra các hàng hoá và dịch vụ có giá trị thông qua việc sử dụng các nguồn lực con người, vốn và nguồn lực tự nhiên của một quốc gia và là động lực dẫn dắt sự thịnh vượng bền vững. Năng suất lao động thấp, dẫn đến thu nhập của người lao động thấp gần như là một hệ quả tất yếu của chuỗi phát triển.
Về chất lượng lao động, theo báo cáo khảo sát của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) năm 2007, các chủ doanh nghiệp Việt Nam cho rằng khi tuyển dụng lao động, doanh nghiệp phải đào tạo lại hầu hết lao động ở các cấp bậc khác nhau; lao động rất hạn chế về ngoại ngữ, năng lực tổ chức và quản lý. Kết quả khảo sát về "Thiếu hụt lao động kỹ năng ở Việt Nam" do Viện Khoa học Lao động và Xã hội và Tập đoàn Manpower thực hiện năm 2011 cho thấy 1/4 doanh nghiệp cho rằng lao động không đáng tin cậy hoặc chưa quan tâm tới chất lượng công việc và thiếu kỹ năng giao tiếp.
Như vậy, trong nhiều yếu tố, giáo dục đào tạo nói chung, đào tạo nghề nói riêng có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh quốc gia. Để nâng cao năng lực cạnh tranh, người lao động phải có kỹ năng nghề nghiệp giỏi, điều đó sẽ giúp họ tăng năng suất lao động, từ đó tăng thu nhập. Nhưng để có kỹ năng nghề nghiệp giỏi người lao động không chỉ được định hướng lựa chọn nghề phù hợp với tố chất và năng lực của bản thân cùng với sự đào tạo có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, hơn thế nữa là sự thích ứng với sự phát triển của khoa học công nghệ trong môi trường công việc. Việc nghiên cứu các mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề trên thế giới và một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.
Năng lực cạnh tranh quốc gia thực sự trở thành thách thức không chỉ ở tầm vĩ mô mà còn là thách thức trực tiếp đối với giáo dục nghề nghiệp. Do vậy, việc lựa chọn xây dựng và đa dạng hóa mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề cho người lao động phù hợp với điều kiện Việt Nam sẽ là đột phá quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp của một số nước trên thế giới (Nhật Bản, Đức, Úc, Hàn Quốc,...) và trên cơ sở đó đề xuất những vấn đề đặt ra cho mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập là một vấn đề hết sức cấp bách đặt ra. Các kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp luận cứ khoa học, là căn cứ cho các nhà hoạch định chính sách, các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực xác định và lựa chọn mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.
2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu chung: Phân tích mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp của một số nước trên thế giới trên cơ sở đó đề xuất mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.
b. Mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn các yếu tố cơ bản và mối quan hệ của chúng trong mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp.
- Phân tích đánh giá thực trạng mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp của một số nước trên thế giới (Nhật Bản, Úc, Đức, Hàn Quốc,...) và của Việt Nam.
- Từ mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp của một số nước trên thế giới, đề xuất mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với điều kiện Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, báo cáo gồm các nội dung chính sau:
Chương I: Cơ sở lý luận xây dựng mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp.
Chương II: Mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp của một số nước trên thế giới.
Chương III: Đề xuất một số mô hình phát triển kỹ năng nghề nghiệp tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương I: Cơ sở lý luận xây dựng mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp
Chương I tập trung làm rõ hệ thống khái niệm nền tảng và cơ sở phương pháp luận phục vụ việc xây dựng mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp (KNNN). Trên cơ sở tham chiếu phân loại của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2014), đề tài xác định kỹ năng của người lao động bao gồm ba nhóm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội và hành vi, và kỹ năng kỹ thuật. Trong phạm vi nghiên cứu, KNNN được tiếp cận là các kỹ năng kỹ thuật hình thành ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) sau bậc trung học. Phát triển KNNN là quá trình liên tục từ giáo dục phổ thông đến đào tạo nghề và trong suốt thời gian người lao động tham gia thị trường lao động, theo hai con đường chủ yếu: tại trường và tại nơi làm việc.
Mô hình tổ chức phát triển KNNN được định nghĩa là hình mẫu hệ thống các tổ chức trực tiếp hình thành và phát triển KNNN cho người lao động cùng các tổ chức liên quan có tác động đến quá trình này. Việc thiết lập mô hình phải đảm bảo tính khoa học, tính khả thi và tính bền vững; đồng thời gắn kết với mô hình phát triển kinh tế - xã hội tổng thể và phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế.
Về cơ sở phương pháp luận, đề tài xây dựng mô hình theo hai tiếp cận chủ đạo: (i) Tiếp cận dựa trên năng lực thực hiện (Competency Based Training - CBT), đào tạo theo kết quả đầu ra, hướng tới chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; (ii) Tiếp cận thị trường lao động, đảm bảo gắn kết cung - cầu và các xu hướng phát triển của thế giới như phân luồng, liên thông trong giáo dục, gắn kết văn hóa phổ thông với GDNN. Bên cạnh đó, đề tài phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mô hình, bao gồm nhân tố nội tại (cơ chế chính sách, người học nghề, sự tham gia của doanh nghiệp, mạng lưới cơ sở GDNN) và nhân tố bên ngoài (nhận thức xã hội, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tác động của hội nhập quốc tế, yếu tố thị trường và khoa học - công nghệ). Từ đó, đề tài rút ra các nguyên tắc cơ bản xây dựng mô hình: tính toàn vẹn và hệ thống, tính thực tiễn, và tính linh hoạt thích ứng với chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
4.2. Chương II: Mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp của một số nước trên thế giới
Chương II phân tích, so sánh mô hình tổ chức phát triển KNNN của các nhóm quốc gia có nền giáo dục nghề nghiệp tiên tiến, bao gồm các nước châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc), châu Âu (Đức, Na Uy), châu Úc (Australia) và Việt Nam.
Nhật Bản xây dựng hệ thống GDNN theo ba loại hình: đào tạo cho người thất nghiệp, đào tạo nâng cao kỹ năng cho người đang làm việc và đào tạo cho học sinh tốt nghiệp. Đặc điểm nổi bật là mô hình đào tạo tại xí nghiệp phát triển mạnh, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trường nghề tiếp tục đào tạo tại doanh nghiệp lên tới 63%. Hệ thống đánh giá và công nhận kỹ năng nghề quốc gia (NTSTC) vận hành theo luật định từ năm 1960, bao phủ rộng nhiều ngành nghề, tạo động lực cho người lao động nâng cao trình độ.
Hàn Quốc xây dựng GDNN như trụ cột cho phát triển kinh tế quốc dân, với chính sách đầu tư mạnh từ ngân sách nhà nước kết hợp với vay vốn nước ngoài. Các trường nghề Hàn Quốc đã đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật trình độ cao cho các tập đoàn kinh tế lớn. Cơ quan phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc (HRD) đóng vai trò then chốt trong điều phối hệ thống.
Đức nổi tiếng với mô hình đào tạo kép (dual system) - kết hợp đào tạo tại trường và doanh nghiệp, trong đó cơ quan bang có thẩm quyền cao nhất về quản lý GDNN, với sự phân cấp rõ ràng và hệ thống "cơ quan có thẩm quyền" giám sát chặt chẽ chất lượng đào tạo. Australia vận hành hệ thống đào tạo kỹ thuật và dạy nghề (VET) với cơ quan quản lý độc lập là ASQA, có mức độ kết nối chặt chẽ giữa VET và các ngành công nghiệp.
Việt Nam đang xây dựng hệ thống GDNN gồm ba cấp: Trung tâm GDNN, Trường trung cấp và Trường cao đẳng. Hệ thống đánh giá và công nhận kỹ năng nghề quốc gia được triển khai từ năm 2011, tính đến năm 2015 đã có 36 trung tâm đánh giá kỹ năng nghề quốc gia được thành lập. Tuy nhiên, mức độ gắn kết giữa cơ sở GDNN với doanh nghiệp còn hạn chế.
Từ phân tích so sánh, chương II đúc kết các bài học kinh nghiệm quan trọng cho Việt Nam: mô hình tổ chức phát triển KNNN phải là một hệ sinh thái tổng thể gồm cả cơ sở đào tạo, tổ chức đánh giá - công nhận độc lập và doanh nghiệp; cần đa dạng hóa hình thức đào tạo (tại trường, tại doanh nghiệp, phối hợp); cần xã hội hóa mạnh mẽ công tác đánh giá và cấp văn bằng; và nhà nước cần ban hành chính sách khuyến khích doanh nghiệp sử dụng người lao động có văn bằng, chứng chỉ kỹ năng.
4.3. Chương III: Đề xuất một số mô hình phát triển kỹ năng nghề nghiệp tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Căn cứ vào cơ sở pháp lý (Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng) và thực tiễn phát triển, chương III đề xuất hệ thống mô hình tổ chức phát triển KNNN đồng bộ cho Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
Về mô hình hệ thống tổ chức phát triển KNNN tổng quát: Đề tài đề xuất hệ thống gồm ba trụ cột liên kết chặt chẽ: (i) các tổ chức đào tạo KNNN, (ii) các tổ chức đánh giá và công nhận kỹ năng nghề quốc gia độc lập, (iii) hội đồng kỹ năng ngành - cầu nối giữa ngành công nghiệp, nhà giáo dục và chính phủ. Người lao động và doanh nghiệp đặt ở trung tâm của mô hình.
Về mô hình tổ chức đào tạo KNNN, đề tài đề xuất ba hình thức: (1) Đào tạo tại trường GDNN - người học được thực hành theo chương trình chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, kết hợp bài tập hình thành kỹ năng riêng lẻ với bài tập tổng hợp; (2) Phát triển KNNN tại doanh nghiệp - học qua công việc thực tế dưới sự hướng dẫn của người lao động lành nghề, có hình thức chỉ dẫn công việc và luân chuyển vị trí; (3) Phối hợp toàn diện hoặc từng phần giữa trường và doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp tham gia vào quá trình từ tuyển sinh, xây dựng chương trình đến đánh giá đầu ra.
Về mô hình tổ chức đánh giá và công nhận kỹ năng nghề quốc gia: Đề tài đề xuất xây dựng các tổ chức đánh giá độc lập với cơ sở đào tạo, hoạt động dưới sự cấp phép của Bộ LĐTBXH và phối hợp với chính quyền địa phương, ngành công nghiệp, doanh nghiệp và người sử dụng lao động. Bộ LĐTBXH giữ vai trò cấp phép, phê duyệt tiêu chuẩn và ban hành chính sách bảo đảm quyền lợi người lao động đã được công nhận văn bằng.
Về mô hình hội đồng kỹ năng ngành (SSC): Các hội đồng kỹ năng ngành do ngành công nghiệp lãnh đạo, có nhiệm vụ thiết kế tiêu chuẩn kỹ năng nghề theo từng lĩnh vực (ví dụ: ngành điện, ngành than...), tư vấn cho chính phủ về xu hướng phát triển nhân lực và đảm bảo chất lượng trong hệ thống phát triển KNNN.
Về các giải pháp thực hiện: Đề tài đề xuất ba nhóm giải pháp chính: (i) Hoàn thiện chính sách phát triển KNNN - bao gồm sửa đổi Bộ luật Lao động, Luật Việc làm để tạo môi trường pháp lý thuận lợi; (ii) Phát triển hệ thống gắn kết cung - cầu lao động, xây dựng cơ sở dữ liệu thị trường lao động; (iii) Tăng cường gắn kết giữa cơ sở GDNN với doanh nghiệp thông qua cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo bằng ưu đãi thuế, bắt buộc sử dụng lao động có chứng chỉ kỹ năng ở một số ngành nghề.
Kết luận và khuyến nghị của đề tài nhấn mạnh năm giải pháp chính sách trọng tâm: (1) Có cơ chế để doanh nghiệp thực sự trở thành chủ thể trong đào tạo nghề; (2) Triển khai hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia, coi chứng chỉ kỹ năng nghề là điều kiện tham gia thị trường lao động; (3) Hình thành đơn vị quan hệ doanh nghiệp trong tất cả các trường GDNN; (4) Tổ chức thí điểm Hội đồng kỹ năng ngành (SSC); (5) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phát triển KNNN với các nước thành công trong lĩnh vực này như Đức, Hàn Quốc.
Thành viên đề tài:
ThS. Phạm Xuân Thu, Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề, Thư ký; TS. Nguyễn Đức Hỗ, Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề, Thành viên; KS. Lê Văn Phòng, Tổng cục Dạy nghề, Thành viên; ThS. Đào Ngọc Phương, Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề, Thành viên; ThS. Nguyễn Quyết Tiến,Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề, Thành viên; KS. Phùng Quang Huy, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Thành viên; ThS. Đỗ Thu Hương, Đại học Lao động - Xã hội, Thành viên.
Từ khóa:
Kỹ năng nghề nghiệp Mô hình tổ chức phát triển kỹ năng nghề nghiệp Giáo dục nghề nghiệp Đào tạo nghề Hội nhập quốc tế Việt Nam
|
Tên file |
View |
|
CT2016-01-03.pdf
|
Đăng nhập để xem
|