Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Chủ nhiệm: Phan Sỹ Nghĩa

Năm đăng ký: 2018

Năm nghiệm thu: 2018

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đặt mục tiêu về phát triển kinh tế:  “Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7 - 8%/năm. GDP năm 2020 theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010; GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD. Xây dựng cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả. Tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP. Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Nông nghiệp có bước phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động; tỉ lệ lao động nông nghiệp khoảng 30 - 35% lao động xã hội”.

Để thực hiện mục tiêu trên, Chiến lược cũng đã đề ra một trong các giải pháp đột phá là “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững...Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề. Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội. Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn...; Năng suất lao động xã hội bình quân tăng khoảng 5%/năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2020 đạt khoảng 65 - 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%.

Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, sau khi điểm qua những thành tựu đã đạt được, chỉ ra yếu kém của giáo dục, đào tạo và dạy nghề: “ chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động” [2].

Để đạt được các mục tiêu và khắc phục các hạn chế trên, ngoài tăng ngân sách hàng năm, Đảng và Nhà nước chủ trương đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục để huy động thêm nguồn lực to lớn của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư cho  cho giáo dục, đào tạo và dạy nghề.

Sau hơn 10 năm thực hiện chủ trương này, cho đến nay công tác huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước cho phát triển giáo dục đào tạo đã đạt được những kết quả nhất định, thu hút đáng kể nguồn lực đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo nói chung và GDNN nói riêng, nhất là phát triển các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề ngoài công lập.

Tuy nhiên tổng các nguồn lực của xã hội thu hút vào khối ngoài công lập còn rất thấp so với tiềm năng. Hiện mới có trên 3.200 dự án đầu tư theo định hướng xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo với số vốn đăng ký trên 53.000 tỷ đồng; Chưa huy động được sự tham gia rộng rãi, đóng góp tích cực của các tổ chức, doanh nghiệp...Hoạt động đầu tư, hợp tác của khối tư nhân với các cơ sở giáo dục công lập thông qua các hình thức liên kết, hợp tác kinh doanh, đối tác công tư... còn đơn lẻ, không tạo sự đột phá trong toàn hệ thống.

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong GDNN ở Việt Nam” là hết sức cần thiết.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm hợp tác quốc tế, thực trạng hợp tác công tư trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam, đề xuất các hình thức, mô hình, giải pháp thực hiện hợp tác công tư hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp.

Mục tiêu cụ thể:

Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về hợp tác công tư trong giáo dục và GDNN Việt Nam;

Nghiên cứu thực trạng hợp tác công tư trong giáo dục và GDNN ở Việt Nam;

Đề xuất các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong GDNN ở Việt Nam.

3. Kết cấu của đề tài

Báo cáo tổng hợp của Đề tài gồm 3 chương:

Chương I. Cơ sở lý luận về hợp tác công tư trong giáo dục nghề nghiệp.

Chương II. Thực trạng về hợp tác công - tư trong giáo dục nghề nghiệp ở việt nam.

Chương III. Các giải pháp hợp  tác công - tư trong giáo dục nghề nghiệp.

4. Nội dung chính của đề tài

Chương 1. Cơ sở lý luận về hợp tác công tư trong giáo dục nghề nghiệp

Nội dung chương này tập trung làm rõ các khái niệm cơ bản nền tảng, các mô hình phổ biến, hệ thống tiêu chí đánh giá cùng kinh nghiệm quốc tế liên quan đến đối tác công tư trong lĩnh vực GDNN. Về mặt khái niệm, đề tài bám sát các định nghĩa pháp lý và học thuật để làm rõ bản chất của giáo dục nghề nghiệp, nguồn nhân lực và vai trò của các bên khi tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ phát triển nhân lực quốc gia. Đặc biệt, báo cáo đã phân định rõ ràng bản chất cụ thể, ràng buộc hợp đồng và quyền sở hữu tài sản của mô hình PPP trong giáo dục để phân biệt với phạm trù rộng của xã hội hóa giáo dục và tính chất thương mại thuần túy của tư nhân hóa giáo dục. Trên cơ sở đó, khái niệm hợp tác công tư trong GDNN được xác định là mối quan hệ chia sẻ rủi ro, phân bổ tài sản, kỹ năng giữa khu vực nhà nước và ngoài nhà nước nhằm mang lại dịch vụ tối ưu cùng lợi ích kinh tế, xã hội cho cả hai bên. Ngoài ra, các khái niệm bổ trợ như tự chủ, trách nhiệm giải trình và tiêu chí hiệu quả cũng được định nghĩa cụ thể làm thước đo lý luận.

Đi sâu vào cấu trúc vận hành, chương này tổng hợp các mô hình PPP trong GDNN theo các cấp độ chính sách và cấp độ hoạt động đào tạo thực tiễn. Các mô hình cốt lõi được mô tả thuộc tính gồm: mô hình nhà nước đặt hàng đào tạo; mô hình doanh nghiệp đặt hàng; hệ thống liên kết đào tạo kép (chia sẻ thời gian học giữa trường và doanh nghiệp); mô hình cơ sở GDNN nằm trong doanh nghiệp; liên kết thực tập tay nghề; quỹ đào tạo nghề trích từ quỹ lương doanh nghiệp và mô hình nhượng quyền khai thác hạ tầng. Để đánh giá mức độ thành công của các mô hình này, đề tài đề xuất khung đánh giá gồm 8 tiêu chuẩn với 22 tiêu chí cụ thể, bao trùm từ quản trị cơ sở, tổ chức đào tạo, nghiên cứu khoa học, tài chính, việc làm của sinh viên cho đến kiểm định chất lượng và tính bền vững. Đồng thời, báo cáo chỉ ra hiệu quả hợp tác chịu sự tác động mạnh mẽ bởi ba nhóm yếu tố: định hướng chính sách ưu đãi của nhà nước, năng lực nội tại trong quản trị của cơ sở GDNN, cùng nhận thức và trách nhiệm của chính doanh nghiệp.

Hệ thống lý luận của chương được củng cố bằng việc phân tích sâu sắc bức tranh kinh nghiệm quốc tế phân theo 4 kiểu cung cấp tài chính - dịch vụ của JICA và các điểm mạnh, điểm yếu của từng loại hình nhà cung cấp theo Ngân hàng Thế giới. Đề tài điểm qua các bài học thực tiễn tốt từ việc xây dựng trường học ở Anh, cung ứng dịch vụ tại Ấn Độ, phiếu học đường ở Chilê, tiếp quản trường học tại Pakistan, hệ thống đào tạo nghề kép chuẩn mực của CHLB Đức, hệ thống phát triển nguồn nhân lực (HRD) tại Malaysia, Hàn Quốc và mô hình trường học trong nhà máy (SiF) tại Thái Lan. Từ những mô hình xuyên quốc gia này, đề tài đúc kết 6 bài học kinh nghiệm đắt giá cho Việt Nam, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của một khung pháp lý đồng bộ, việc lựa chọn dự án thí điểm quy mô nhỏ để giảm thiểu rủi ro, cơ chế cộng đồng trách nhiệm - chia sẻ lợi ích, và sự cần thiết phải cam kết hỗ trợ toàn diện từ phía Chính phủ.

Chương 2. Thực trạng về hợp tác công - tư trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Chương 2 cung cấp một bức tranh toàn cảnh về tình hình hợp tác công tư trong GDNN tại Việt Nam. Chương này bắt đầu bằng việc Khái quát về hệ thống GDNN ở Việt Nam, điểm lại những kết quả đã đạt được trong những năm qua, đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân sâu xa của chúng, như chất lượng đào tạo chưa cao, cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý, và sự thiếu hụt nguồn lực. Tiếp theo, chương đi sâu vào Thực trạng về hợp tác công – tư trong GDNN, phân tích các mô hình hợp tác công tư đang được triển khai trên thực tế, đánh giá mức độ hiệu quả và tính ứng dụng của từng mô hình thông qua các số liệu khảo sát (ví dụ: ý kiến đánh giá về tính ứng dụng của mô hình đặt hàng của nhà nước/doanh nghiệp, mô hình đào tạo kép, mô hình cơ sở GDNN trong doanh nghiệp, mô hình liên kết thực tập tay nghề). Chương cũng xem xét Thực trạng về cơ sở pháp lý về hợp tác công – tư trong GDNN, đánh giá mức độ hoàn thiện và hiệu lực của các văn bản pháp luật hiện hành, cũng như những khoảng trống cần được bổ sung. Cuối cùng, chương phân tích Các yếu tố ảnh hưởng đến hợp tác công – tư trong GDNN ở Việt Nam, bao gồm các yếu tố từ khung pháp lý, nhận thức của các cơ sở GDNN, nhận thức của doanh nghiệp và xã hội, cũng như lợi ích của các bên tham gia, từ đó làm rõ những rào cản và động lực cho sự phát triển của PPP trong lĩnh vực này.

 Chương 3. Các giải pháp hợp tác công - tư trong giáo dục nghề nghiệp

Bước sang giai đoạn phát triển mới, hệ thống GDNN đứng trước những thời cơ to lớn khi Đảng và Nhà nước đặt khối ngành này làm trọng tâm trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và nguồn nhân lực quốc gia. Thể chế chính sách liên tục được củng cố đồng bộ bằng việc ban hành và thực thi Luật Giáo dục nghề nghiệp cùng các Nghị định, Quyết định quan trọng về Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, Khung trình độ quốc gia và chiến lược tăng cường huy động nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục giai đoạn 2019 – 2025. Những đổi mới mang tính đột phá này không chỉ tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm tiên tiến của thế giới mà còn khắc phục tình trạng quản lý chồng chéo, cắt khúc trước đây bằng cách thống nhất đầu mối quản lý nhà nước. Nhằm chuẩn hóa toàn diện lực lượng giảng dạy trực tiếp trong mối quan hệ hợp tác công tư, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng đã ban hành hệ thống thông tư chặt chẽ, quy định chi tiết về chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, chức danh nghề nghiệp viên chức và các chương trình bồi dưỡng sư phạm từ trình độ sơ cấp trở lên.

Từ bối cảnh bệ phóng đó, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm: khẩn trương hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý đồng bộ về PPP, xây dựng các mẫu hợp đồng chuẩn hóa quy định rõ quyền lợi, trách nhiệm và mức độ chia sẻ rủi ro giữa các bên; đổi mới mạnh mẽ cơ chế tài chính thông qua chính sách ưu đãi thuế, đất đai sạch cho doanh nghiệp, đẩy mạnh cơ chế nhà nước đấu thầu đặt hàng đào tạo và thí điểm thành lập quỹ đào tạo nghề trích từ quỹ lương doanh nghiệp; chuẩn hóa và nâng cao năng lực quản trị, thúc đẩy quyền tự chủ toàn diện của các cơ sở GDNN để tạo vị thế đối thoại bình đẳng với khu vực tư nhân; thúc đẩy và nhân rộng các mô hình liên kết đào tạo thực chất như hệ thống đào tạo kép, khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu vào toàn bộ chuỗi đào tạo từ xây dựng chuẩn đầu ra đến cam kết việc làm; và cuối cùng là áp dụng bộ công cụ giám sát độc lập, bảo đảm trách nhiệm giải trình minh bạch trước người học và xã hội nhằm hướng tới sự phát triển đối tác công tư ổn định, bền vững lâu dài.

 

Thành viên đề tài:

Từ khóa: Hợp tác công tư Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam

Tên file View
CB2018-09 Đăng nhập để xem
Giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Tống Hải Nam

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Văn Thanh

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2012

Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hằng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường ĐHSPKTNĐ

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Phan Sỹ Nghĩa

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: ThS. Lưu Quang Tuấn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.s Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Giải pháp sử dụng hiệu quả lao động người cao tuổi

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Doãn Thị Mai Hương

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đánh giá 5 năm thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Hoàng Kim Ngọc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |