Nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của Bộ vào thực tiễn công tác của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội
Chủ nhiệm:
PGS.TS. Nguyễn Thị Lan Hương
Năm đăng ký:
2017
Năm nghiệm thu:
2017
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
Văn kiện Đại hội XII yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ của đất nước phải lên một tầm cao mới, khắc phục những yếu kém trong thời gian qua, coi đây là công việc trọng yếu và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. “Khoa học, công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu”; mọi chủ trương, chính sách phát triển đất nước, phát triển kinh tế - xã hội cũng như bảo vệ Tổ quốc đều phải dựa vào khoa học, công nghệ và thực hiện bằng khoa học, công nghệ; khoa học, công nghệ phải đứng hàng thứ nhất và đi trước một bước trong mọi chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước.
Trong giai đoạn 2012-2016, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã triển khai 166 chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ thuộc 13 lĩnh vực quản lý nhà nước về lao động, người có công và xã hội, trong đó, gần 40% đề tài nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược và 60% đề tài nghiên cứu ứng dụng và triển khai.
Theo lĩnh vực nghiên cứu, nhiều nhất là nhóm đề tài về Giáo dục-đào tạo, dạy nghề (22,29%); dân số lao động,việc làm (12,05%); Tiền lương thu nhập và quan hệ lao động (10,24%), những vấn đề bức bách cần được nghiên cứu ở nước ta trong thời gian qua. Một số lĩnh vực khác có tỷ lệ đề tài ít hơn, như Phòng chống tệ nạn xã hội (1,81%); Bình đẳng giới hay Ưu đãi người có công (2,41%).
Mặt được của các đề tài nghiên cứu khoa học trong thời gian qua là đã dựa trên quan điểm cơ bản, nhất quán và xuyên suốt của Đảng là: “Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ”. Trong thời kỳ đổi mới, các công trình nghiên cứu của Bộ đã cung cấp kịp thời đề xuất các đề tài nghiên cứu, đóng góp cơ sở khoa học để hoàn thiện nhiều nội dung cụ thể về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội trong các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI;tổng kết đánh giá tình hình thực hiện các Nghị quyết của Trung ương về lĩnh vực lao động, xã hội; Tổng kết 30 năm đối mới ngành …
Đặc biệt, đề tài nghiên cứu “Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn đến 2020” do Viện KHLĐ &XH thực hiện, đã được Ban chấp hành Trung ương sử dụng để ban hành Nghị quyết số 15/NQ-TƯ về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020”, làm nền tảng cho phát triển chính sách an sinh xã hội cho giai đoạn đến 2020.
Các đề tài cấp Bộ cũng đã làm rõ cơ sở lý luận, phương pháp luận và cơ sở thực tiễn để trình và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cung cấp các luận cứ khoa học cho việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện Bộ Luật Lao động (sửa đổi 2012), Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014), Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (2006), Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi 2014), Luật Việc làm (2013), Luật Người khuyết tật, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Người cao tuổi, Luật Bình đẳng giới;
Các phát hiện, kiến nghị của nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển ngành:; cung cấp các hệ thống lý luận để hoàn thiện các Bộ luật, Quyết định, Nghị quyết, thông tư, hướng dẫn.. ... trong lĩnh vực Lao động, Người có công và xã hội
Một số kết quả nghiên cứu đã trở thành các văn kiện quản lý, như Bản tin "Cập nhật thị trường lao động" hàng quí (từ năm 2014).
Về tổ chức thực hiện, công tác quản lý khoa học cũng đạt được nhiều tiến bộ, từ khâu xác định đề tài, lựa chọn ban chủ nhiệm, đến tổ chức thực hiện, nghiệm thu đánh giá, phổ biến các kết quả nghiên cứu khoa học. Đặc biệt, các đề tài được tổ chức theo các chương trình lớn (mỗi năm ít nhất một chương trình), trong đó, các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ có mục tiêu cung cấp các luận cứ khoa học và tổng kết thực tiễn các vấn đề chyên môn có tính cấp bách của các đơn vị trong ngành trong từng thời kỳ.
Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu khoa học lao động và xã hội trước những yêu cầu mới còn bộc lộ những hạn chế, bất cập: : còn ít các công trình nghiên cứu đón đầu về các vấn đề lớn, mang tính chiến lược trong lĩnh vực của ngành; một số nghiên cứu chưa nắm bắt được kịp thời sự thay đổi và đòi hỏi bức xúc của cuộc sống; các đề xuất trong một số đề tài về chính sách và giải pháp đưa ra chưa mang tính đột phá và chưa kịp thời; một số công tác phục vụ nghiên cứu chưa được coi trọng đúng mức như vấn đề xây dựng cơ sở dữ liệu, thông tin khoa học, thông tin thống kê. Đặc biệt là tỷ lệ các kết quả nghiên cứu được ứng dụng, phục vụ cho công tác hoạch định chính sách của ngành còn thấp, chưa triển khai, ứng dựng trong thực tế; số lượng đề tài nghiên cứu phục vụ khối doanh nghiệp còn rất ít.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào hoạch định chính sách còn chưa hiệu quả, gồm: chất lượng nghiên cứu khoa học của các đề tài còn hạn chế; việc giao nhiệm vụ nghiên cứu còn chưa khoa học, chưa xuất phát từ yều cầu khách quan, thiếu các chính sách, biện pháp giám sát và các khuyến khích ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học
Do vậy, việc nghiên cứu tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạch định chính sách ngành LĐTBXH là cần thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của Bộ vào thực tiễn công tác của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn công tác của ngành;
- Tổng quan kinh nghiệm trong nước và quốc tế về ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn công tác của ngành;
- Đánh giá hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của Bộ vào thực tiễn công tác của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội giai đoạn 2012-2016;
- Đề xuất hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào hoạch định các chính sách ngành LĐTBXH.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của Bộ vào thực tiễn công tác của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội giai đoạn đến 2025.
3. Kết cấu của đề tài
Chương I: Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạch định chính sách
Chương II: Thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào hoạch định chính sách của ngành LĐTBXH, 2012-2016
Chương III: Các giải pháp về nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào hoạch định chính sách của ngành LĐTBXH đến 2025
4. Nội dung chính của đề tài
Chương I: Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạch định chính sách
Để định hình khung lý thuyết cho nội dung nghiên cứu, đề tài đã bắt đầu bằng việc hệ thống hóa một số khái niệm liên quan bao gồm khoa học, nghiên cứu khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học và phân loại các nhiệm vụ khoa học công nghệ theo cấp độ quản lý sử dụng ngân sách nhà nước. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xác định rõ 13 lĩnh vực nghiên cứu khoa học đặc thù của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội gắn liền với chức năng quản lý nhà nước như dân số, lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, giáo dục nghề nghiệp, giảm nghèo và bình đẳng giới. Đề tài nhấn mạnh rằng kết quả nghiên cứu khoa học chỉ thực sự phát huy giá trị, tránh trở thành lý thuyết suông khi nó được chuyển hóa, chắt lọc thành tiền đề xã hội để áp dụng vào thực tiễn tổ chức, bồi dưỡng cán bộ và hoàn thiện cơ chế, chính sách của ngành. Nhằm đo lường chính xác các tác động này, nghiên cứu đã xây dựng bản chất của hệ thống chỉ tiêu đánh giá, phân định rõ nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả nghiên cứu (đầu ra về số lượng ấn phẩm, tiến độ, thứ hạng nghiệm thu và chất lượng qua hệ thống bình duyệt hoặc độ đo định lượng) với các tiêu chí đánh giá hiệu quả ứng dụng trong hoạch định chính sách (hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả thông tin và hiệu quả nâng cao năng lực). Đồng thời, chương này cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả ứng dụng như nhận thức, thể chế quản lý, quy trình hướng đầu ra (từ đề xuất, tuyển chọn đến nghiệm thu, tuyên truyền), năng lực của nhân lực nghiên cứu, nguồn lực tài chính theo cơ chế khoán và mức độ tự chủ của tổ chức khoa học. Từ việc đúc kết nội dung cơ bản về nâng cao hiệu quả và tổng quan kinh nghiệm trong, ngoài nước, đề tài đã rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc liên kết các lực lượng nghiên cứu, tăng kinh phí đầu tư, đổi mới công cụ và nâng cao trách nhiệm của chủ nhiệm đề tài sau nghiệm thu.
Chương II: Thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào hoạch định chính sách của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội giai đoạn 2012-2016
Đi vào phân tích thực tế giai đoạn 2012-2016, đề tài đã phác thảo bức tranh toàn cảnh về tình hình thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của ngành ở cả cấp Nhà nước và cấp Bộ. Đối với các đề tài cấp Nhà nước, số lượng thực hiện còn khiêm tốn, chủ yếu tập trung vào giai đoạn 2012-2014 do các đơn vị nghiên cứu lớn thực hiện với nguồn kinh phí cao, đảm bảo đúng tiến độ hợp đồng nhưng năng lực đấu thầu cạnh tranh và sự tham gia quản lý của Phòng Quản lý khoa học còn hạn chế. Trong khi đó, các đề tài cấp Bộ diễn ra sôi nổi với hơn 30 nhiệm vụ mỗi năm (riêng năm 2016 tăng lên 45 đề tài), phân bố rộng khắp ở 13 lĩnh vực mà đứng đầu về số lượng là Viện Khoa học Lao động và Xã hội và Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp. Mặc dù nguồn kinh phí đầu tư tổng thể đạt 242,65 tỷ đồng và phần lớn các đề tài độc lập, chương trình trọng điểm được thực hiện đúng tiến độ, nhưng nhân lực tham gia lại bộc lộ hạn chế khi tỷ lệ chủ nhiệm đề tài có học hàm, học vị PGS.TS chỉ chiếm 6%, lực lượng thạc sĩ và tiến sĩ chiếm hơn 2/3, và vẫn còn 22% chủ nhiệm ở trình độ cử nhân. Đáng chú ý, số lượng đề tài xếp loại nghiệm thu ở mức trung bình vẫn còn chiếm khoảng 10%, phản ánh chất lượng nghiên cứu của một số đơn vị chưa cao.
Đánh giá một cách tổng thể về hiệu quả ứng dụng, đề tài nhìn nhận khách quan những mặt đã đạt được khi các kết quả nghiên cứu đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ, giúp các chính sách ban hành phù hợp với thực tiễn đổi mới, cải thiện đời sống cho hàng chục triệu người và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, mối liên kết giữa nghiên cứu và triển khai thực tế vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, vướng mắc cốt lõi. Giá trị khoa học của nhiều đề tài chưa tốt, xác định phạm vi lúng túng, sử dụng thuật ngữ chưa chuẩn xác và thường đưa ra kiến nghị chung chung dẫn đến tính khả thi thấp. Thêm vào đó, việc giao nhiệm vụ nghiên cứu còn thiếu tính khoa học và chưa xuất phát sát từ nhu cầu khách quan; sự phối hợp trong hoạt động nghiên cứu còn lỏng lẻo; công tác thông tin, chuyển giao sản phẩm sau nghiệm thu còn nhiều bất cập và hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ nhìn chung chưa cao.
Chương III: Các giải pháp về nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào hoạch định chính sách của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đến năm 2025
Trước bối cảnh ngành phải đương đầu với hàng loạt vấn đề bức thiết như giảm tai nạn lao động, việc làm bền vững, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và giải quyết các vấn đề xã hội mới nảy sinh, đề tài đã xác định rõ quan điểm và mục tiêu phát triển khoa học công nghệ đến năm 2025. Mục tiêu tổng quát là gắn kết chặt chẽ hoạt động nghiên cứu với quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách và tăng cường ứng dụng kết quả phục vụ thực tiễn. Đối với các mục tiêu cụ thể, ngành phấn đấu nâng tỷ lệ nghiên cứu cơ bản, chiến lược và dự báo từ 40% lên 50% để phục vụ tầm nhìn xa hơn; tăng số lượng nghiên cứu cấp quốc gia và nghiên cứu hợp tác với doanh nghiệp; đồng thời tăng gấp 2 lần số bài báo công bố trên các tạp chí chất lượng cao và gấp 1,5 lần số công trình công bố quốc tế so với giai đoạn 2010-2016. Ngành cũng định hướng nâng cấp các bản tin, cơ sở dữ liệu hiện có thành các tạp chí nghiên cứu khoa học lao động và xã hội chuyên sâu và tăng cường truyền thông trên trang thông tin điện tử của Bộ.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, đề tài đã đề xuất hệ thống nội dung chủ yếu và nhóm giải pháp mang tính hành động cao cho giai đoạn tới. Trên tầm quốc gia và ngành, cần xây dựng chiến lược đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, nâng cao nhận thức của các bên, hoàn thiện tổ chức, tăng cường năng lực cho đội ngũ nghiên cứu và đổi mới cơ chế tài chính theo hướng tăng chi ngân sách kết hợp hội nhập quốc tế. Hệ thống giải pháp cụ thể tập trung vào việc hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá chất lượng và thí điểm đánh giá hiệu quả ứng dụng hậu nghiệm thu. Quy trình xây dựng đề tài sẽ được đổi mới theo hướng đề xuất nhiệm vụ minh bạch, dân chủ; cân đối hợp lý cơ cấu giữa đề tài chiến lược dài hạn, chương trình trọng điểm cấp bách và đề tài ngắn hạn phục vụ rà soát chính sách. Về quản lý kết quả, đề tài kiến nghị quyết liệt chuyển hoạt động khoa học sang cơ chế dịch vụ, tự chủ tài chính và áp dụng phương thức khoán chi theo sản phẩm đầu ra. Cuối cùng, công tác đánh giá sản phẩm, tuyên truyền, phổ biến và thiết lập cơ chế theo dõi, giám sát việc ứng dụng kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu phải được thực hiện đồng bộ, đi kèm với các điều kiện về nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho toàn ngành LĐTBXH.
Thành viên đề tài:
Ths.Nguyễn Thị Hải Yến, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH; Ths. Nguyễn Thị Thu Hương, Hiệp hội GDNN và nghề CTXH; TS. Bùi Thái Quyên, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH; CN.Lưu Thị Lan Anh, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH; ThS. Phùng Thị Như Nhàn, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH; Ths. Nguyễn Trà My, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH
Từ khóa:
Kết quả nghiên cứu khoa học Hiệu quả ứng dụng Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội