Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2016 – 2020 và tầm nhìn 2030

Chủ nhiệm: TS. Bùi Tôn Hiến

Năm đăng ký: 2015

Năm nghiệm thu: 2016

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

Ba “nút thắt” lớn đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và tương lai gần là thể chế, khoa học công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì còn là nền tảng, cơ sở gỡ 2 nút thắt còn lại và cho phép đi tắt, đón đầu các ứng dụng và phát triển khoa học kỹ thuật trong phát triển kinh tế và hội nhập.

Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đã hội nhập ASEAN, WTO, đang tiến tới tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và tiếp theo sẽ ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Vì vậy, Việt Nam cần một nền kinh tế phát triển có sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới. Một trong những giải pháp để mở rộng và phát triển kinh tế là phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Việt Nam duy trì được xu thế giảm sinh và đã đạt được mức sinh thay thế với tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) giảm từ 2,33 con (1999) xuống còn 2,03 con (2009) và 2,1 con (2013). Tuy nhiên, dân số Việt Nam vẫn tiếp tục tăng bình quân năm khoảng 1 triệu người, với tỷ lệ gia tăng dân số trung bình năm trên 1% trong thập kỷ qua. Đến năm 2013, quy mô dân số trung bình Việt Nam đã đạt khoảng 89,709 triệu người, xếp thứ 13 trên thế giới. Do mức sinh giảm mạnh trong vài thập niên qua nên tỷ lệ nguồn nhân lực (dân số từ 15 tuổi trở lên) tăng đáng kể, chiếm gần 77% dân số cả nước, đạt 69,256 triệu người tính đến cuối năm 2013. Thêm vào đó, tỷ lệ tham gia lao động tiếp tục tăng, chiếm 77,53% nguồn nhân lực của cả nước, kéo theo lực lượng lao động tăng mạnh, đạt 53,69 triệu người (2013).

Chính phủ đã dành sự quan tâm và đầu tư cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với việc phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”; “Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012-2015”; đồng thời Chính phủ cũng phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 với mục tiêu: tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55,0% và đào tạo nghề đạt 40% vào năm 2015; tương ứng là 70,0% và 55,0% vào năm 2020.

Mặc dù có xu hướng chuyển biến tích cực nhưng chất lượng lao động Việt Nam thấp, chủ yếu vẫn là lao động giản đơn. Có thể khẳng định, chưa bao giờ Việt Nam lại đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực có trình độ như hiện nay, hầu hết tất cả các ngành kinh tế đều ở trong tình trạng khan hiếm nhân lực, đặc biệt là nhân lực có trình độ, có chất lượng. Nếu trong thời gian tới chúng ta không giải quyết được bài toán nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chúng ta sẽ đứng trước một cuộc khủng hoảng chất lượng nhân lực trầm trọng, mà hệ quả của nó là sự sụt giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế; sự bế tắc của một nền kinh tế không vượt qua được “bẫy thu nhập trung bình”; và chúng ta tự đánh mất khả năng hội nhập và cơ hội tham gia thị trường lao động quốc tế.

Lịch sử chứng minh nhiều quốc gia đã thành công là dựa vào nguồn nhân lực có chất lượng. Nguồn nhân lực đó, không thể là nguồn lực tự nhiên nếu không được quan tâm đầu tư một cách đúng mức, đúng lúc. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 xác định một trong 3 khâu đột phá là “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã khẳng định: “Mục tiêu tổng quát phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới”. Muốn đạt được mục tiêu này, cần phải quan tâm nghiên cứu, xây dựng các chính sách và đầu tư phát triển thoả đáng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nội dung căn bản của phát triển nguồn nhân lực đề ra.

Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam, dưới nhiều giác độ, khía cạnh và cách tiếp cận khác nhau. Phần lớn các cách tiếp cận thông thường còn hạn chế khi nhìn nhận việc phát triển nguồn nhân lực nước ta một cách thô sơ rằng phát triển nguồn nhân lực là mỗi năm đào tạo ra bao nhiêu kỹ sư, bao nhiêu cử nhân, bao nhiêu kỹ thuật viên… và chúng ta phấn đấu bằng được mục tiêu đó mà chưa quan tâm đúng mức đến nhu cầu về nhân lực của nền kinh tế đang ở mức nào. Chúng ta phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục, đào tạo nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ… làm cho nguồn lực con người không ngừng phát triển trở thành tiềm năng vô tận. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng thì chưa đủ. Vấn đề quan trọng là phải khai thác, huy động và phát huy có hiệu quả nhất tiềm năng đó vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Các chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược, nội dung phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải được song hành với nhau. Và đó cũng là lý do cần thiết cả về lý luận và thực tiễn đặt ra khi nghiên cứu đề tài “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2030”.

2. Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa các nội dung lý luận và thực tiễn chủ yếu về chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực;

- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực, các chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phân tích các lợi thế và hạn chế cũng như các nguyên nhân cơ bản của các hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam;

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2030.

3. Kết cấu của đề tài Gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Chương II: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam thời kỳ 2005 – 2014.

Chương III: Một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2030.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương I: Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:

Đề tài hệ thống hóa các khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên cơ sở tổng hợp nhiều cách tiếp cận khác nhau (Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc UNDP, Ngân hàng Thế giới...). Trên cơ sở đó, đề tài xác định chất lượng nguồn nhân lực bao gồm ba thành tố là thể lực, trí lực và tâm lực; do phạm vi nghiên cứu của một đề tài cấp Bộ khá rộng, đề tài giới hạn tập trung phân tích, đo lường khía cạnh trí lực và một phần tâm lực (thể hiện qua nhóm kỹ năng làm việc), còn nội dung về thể lực, sức khoẻ chỉ được đề cập trong phạm vi cơ sở lý luận để bảo đảm tính toàn diện.

Đề tài xây dựng hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực theo hai nhóm nội dung chính: nhóm học vấn/kiến thức (trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật) và nhóm kỹ năng làm việc (kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội - hành vi, kỹ năng kỹ thuật). Đồng thời, đề tài đề xuất phương pháp đo lường chất lượng nguồn nhân lực bằng cách so sánh các chỉ tiêu thành phần với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong nước và với một số quốc gia trong khu vực có trình độ phát triển tương đồng hoặc cao hơn (Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan).

Đề tài phân tích năm nhóm nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực, gồm: thể chế, chính sách và phát triển thị trường lao động; tăng trưởng kinh tế; quy mô và chất lượng dân số; cung ứng giáo dục, đào tạo; và cầu lao động, cầu kỹ năng trên thị trường lao động.

Đề tài tổng hợp kinh nghiệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của một số quốc gia (Singapore, Malaysia, Hàn Quốc, Thái Lan), từ đó rút ra sáu bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, trong đó nhấn mạnh: coi con người là nguồn lực quan trọng nhất và ưu tiên đầu tư cho giáo dục - đào tạo, nhất là nhân lực khoa học, kỹ thuật; cần có cơ quan chuyên trách quản lý phát triển nguồn nhân lực; xây dựng hệ thống đào tạo gắn với nhu cầu thị trường lao động và môi trường học tập suốt đời; huy động toàn xã hội tham gia phát triển nguồn nhân lực; chuẩn hóa văn bằng, chứng chỉ và khung kỹ năng; và xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực dài hạn kết hợp với các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn cụ thể.

4.2. Chương II, đề tài phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam thời kỳ 2005 – 2014:

Đề tài phân tích thực trạng kiến thức, kỹ năng của người lao động, cho thấy trình độ học vấn của lực lượng lao động Việt Nam còn thấp (năm 2014 vẫn còn gần 38% lao động có trình độ từ tiểu học trở xuống); tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ tuy tăng dần qua các năm nhưng vẫn ở mức thấp, đạt 18,2% năm 2014, thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực như Singapore (61,5%) hay Hàn Quốc (62%). Chất lượng nguồn nhân lực còn phân bố không đồng đều giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền, giữa nam và nữ cũng như giữa các ngành kinh tế; lao động có chuyên môn kỹ thuật trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo - ngành có vai trò quyết định trong quá trình công nghiệp hóa - chỉ đạt chưa đến 18%, trong khi cơ cấu lao động vẫn còn nặng về nông nghiệp (chiếm khoảng 47% lao động nhưng chỉ đóng góp khoảng 18% GDP năm 2014). Khảo sát về kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội - hành vi và kỹ năng kỹ thuật cũng cho thấy hơn một nửa lực lượng lao động bị thiếu hụt ở các nhóm kỹ năng này.

Đề tài đánh giá tác động của các yếu tố cơ bản đến chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam, gồm: hiệu quả của các chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thời gian qua; mối quan hệ giữa mô hình tăng trưởng, đầu tư với chất lượng nguồn nhân lực; tác động của quy mô, cơ cấu dân số; thực trạng cung ứng giáo dục, đào tạo; và thực trạng “cân bằng kỹ năng thấp” - tình trạng cung và cầu lao động cùng duy trì ở trình độ kỹ năng thấp, cản trở việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Trên cơ sở phân tích, đề tài đánh giá chung những kết quả đạt được: Đảng và Nhà nước đã có chủ trương, định hướng đúng đắn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động ngày càng được nâng lên; người lao động đạt được các kỹ năng nhận thức, kỹ năng kỹ thuật ở mức cơ bản và một số phẩm chất xã hội tốt; cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động có chuyển biến tích cực; đầu tư cho y tế, giáo dục được tăng cường.

Đồng thời, đề tài chỉ ra chín nhóm hạn chế chủ yếu (về thể lực, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, thiếu hụt kỹ năng, phân bố nhân lực không đồng đều, năng lực sáng tạo còn yếu...) và quy về ba nhóm nguyên nhân: nhóm nguyên nhân về giáo dục và đào tạo (hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và giáo dục thường xuyên chưa đáp ứng yêu cầu); nhóm nguyên nhân về trình độ phát triển sản xuất (xuất phát điểm thấp, năng suất lao động và trình độ công nghệ còn hạn chế, khu vực doanh nghiệp kém phát triển); và nhóm nguyên nhân về thể chế, chính sách và sự vận động của thị trường lao động (nhận thức chưa đầy đủ, khung pháp lý chưa hoàn thiện, quản lý nhà nước còn chồng chéo).

4.3. Chương III, trên cơ sở dự báo bối cảnh và yêu cầu phát triển giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn 2030, đề tài đề xuất:

Trên cơ sở quán triệt mục tiêu, quan điểm chỉ đạo của Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 cùng các định hướng phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo của Đảng, Nhà nước, đề tài xác định định hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2030 phải bảo đảm nguồn cung lao động có trình độ, kỹ năng đáp ứng và vượt yêu cầu của thị trường lao động, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển nguồn nhân lực.

Đề tài xây dựng dự báo chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam dựa trên mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân đầu người, theo đó đến năm 2020 chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cần đạt tương đương với Philippines hiện nay và đến năm 2030 cần đạt tương đương với Thái Lan hiện nay, cùng các chỉ tiêu cụ thể về trình độ học vấn, tỷ lệ lao động qua đào tạo và cơ cấu lao động theo ngành cho từng giai đoạn.

Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất bảy nhóm giải pháp chủ yếu: (1) tuyên truyền, đổi mới nhận thức về vai trò của nguồn nhân lực; (2) hoàn thiện khung khổ luật pháp, chính sách về phát triển nguồn nhân lực, thị trường lao động, tiền lương và quản lý nhân lực khu vực sự nghiệp công lập; (3) xây dựng bộ máy quản lý nhà nước thống nhất về phát triển nguồn nhân lực; (4) nâng cao chất lượng dân số thông qua y tế, dinh dưỡng, thể lực, dân số - kế hoạch hóa gia đình; (5) đổi mới giáo dục và đào tạo ở các cấp học, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động; (6) nâng cao cân bằng kỹ năng thông qua tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, gắn kết quy hoạch phát triển kinh tế với quy hoạch phát triển nhân lực và cải cách chính sách tiền lương theo kỹ năng; và (7) một số giải pháp khác về đầu tư hạ tầng, mở rộng an sinh xã hội, khuyến khích khởi nghiệp và tăng cường hợp tác quốc tế, đặc biệt trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN.

Thành viên đề tài:

Nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Lao động – Xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Từ khóa: Nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam

Tên file View
CB2015-01-02.docx Đăng nhập để xem
Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý trường hợp đối với trẻ em cần sự bảo vệ

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Thị Nhung

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Thiết kế và chế tạo hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Hoàng Anh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đề xuất giải pháp thúc đẩy việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Chí Trường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp phát triển đào tạo kỹ năng số cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Nghiên cứu, đề xuất khung chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 -2030

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Quang Việt

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Đánh giá việc triển khai hướng dẫn của ASEAN về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Ths. Lê Ngự Bình

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |