Mối quan hệ giữa chi phí lao động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập
Chủ nhiệm:
Th.s. Nguyễn Huyền Lê
Năm đăng ký:
2017
Năm nghiệm thu:
2017
Tóm tắt:
1. Sự cần thiết
Mức chi phí lao động ở Việt Nam có xu hướng tăng lên do những thay đổi trong quy định của Bộ Luật lao động 2012 về tiền lương và Luật BHXH sửa đổi năm 2014. Mức lương nền để đóng BHXH được thay đổi theo quy định từ ngày 1-1-2016 đến hết năm 2017, tiền lương tháng đóng BHXH sẽ là mức lương và các khoản phụ cấp lương ghi trong hợp đồng lao động. Từ ngày 1-1-2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH sẽ là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác ghi trong hợp đồng lao động. Các khoản phụ cấp và bổ sung trước đây không được sử dụng để làm căn cứ trích nộp BHXH và BHYT. Do vậy các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng mức lương nền đóng BHXH thấp hơn tổng thu nhập của người lao động, và phần thu còn lại được chi trả dưới hình thức phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác ghi trong hợp đồng lao động. Theo quy định mới thì tổng thu nhập của người lao động được quy định trong hợp đồng lao động sẽ làm căn cứ để đóng BHXH. Như vậy, mức đóng tăng thêm về cơ bản sẽ bằng với tỷ lệ đóng BHXH nhân với phụ cấp lương và các khoản thu nhập bổ sung. Đây thực sự có thể là một gánh nặng chi phí tăng lên cho doanh nghiệp trong bổi cảnh kinh tế tăng trưởng chậm.
Bên cạnh đó, ở Việt Nam, ngoại trừ chi phí tuyển dụng, chi phí đào tạo, các chi phí còn lại phụ thuộc nhiều vào mức tiền lương tối thiểu vùng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động. Từ năm 2006 trở lại đây, sau nhiều năm duy trì chính sách tiền lương thấp và tiền lương của khu vực hưởng lương ngân sách gắn với khu vực thị trường (tiền lương doanh nghiệp), hàng năm, Chính phủ đều điểu chỉnh mức lương tối thiểu vùng và đến 2010 đã tách tiền lương khu vực doanh nghiệp với tiền lương khu vực hưởng lương ngân sách nhà nước, từ đó, tiền lương tối thiểu vùng được điều chỉnh khá đều và tăng bình quân giai đoạn 2009-2015 là 26,94%/năm. Tiền lương tối thiểu tăng cũng đồng nghĩa với chi phí lao động của doanh nghiệp gia tăng.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng việc bảo vệ người lao động bằng cách tăng lương tối thiểu lại làm ảnh hưởng tiêu cực đến họ do việc các doanh nghiệp cắt giảm lao động.Tương tự, nếu như việc tăng BHXH quá cao sẽ có thể dẫn đến giảm việc làm, tăng giá sản phẩm, và giảm mức tăng trưởng của nền kinh tế. Doanh nghiệp có thể giảm tuyển dụng lao động chính thức và tăng lao động phi chính thức. Tác động của tăng chi phí lao động (Tiền lương tối thiểu, BHXH) đến việc làm, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ co giãn của cung và cầu lao động đối với chi phí lao động và mức độ mà doanh nghiệp có thể chuyển mức chi phí lao động tăng lên cho người tiêu dùng qua việc nâng cao giá cả.
Trong dài hạn, nếu chi phí lao động tăng, doanh nghiệp sẽ thay đổi phương thức sản xuất và thay thế lao động bằng vốn. Khi chi phí lao động tăng lên, doanh nghiệp sẽ sử dụng ít lao động và sử dụng nhiều vốn để đạt được sản lượng như cũ thông qua cải tiến công nghệ, sử dụng máy móc thiết bị nhiều hơn để thay thế lao động.
Bên cạnh đó, với xu thế tất yếu của hội quốc tế, các doanh nghiệp có tiềm lực, lợi thế cạnh tranh sẽ có nhiều cơ hội để phát triển nhưng đồng thời cũng phải cạnh tranh nhiều hơn với các tập đoàn đa quốc gia, các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm lực kinh tế mạnh,… cũng như các yêu cầu về tiêu chuẩn lao động (các hiệp định thương mại tự do thế hệ 4) đã buộc các doanh nghiệp phải đầu tư với chi phí lao động cao hơn nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn lao động.
Việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động, ngoài đảm bảo lợi ích giữa chủ-thợ trong quan hệ hai bên thông thường, các quyền về tự do hiệp hội, thương lượng tập thể cũng dẫn đến các quyền lợi của người lao động được đòi hỏi và đảm bảo hơn, và tất yếu sẽ tăng các khoản chi phí lao động đối với doanh nghiệp tăng.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, để tồn tại và đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp cần phải cạnh tranh gay gắt với không chỉ với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các Công ty tập đoàn xuyên quốc gia. Quá trình cạnh tranh sẽ đào thải các doanh nghiệp không đủ năng lực cạnh tranh để đứng vững trên thị trường.Mặt khác cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cố gắng trong hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược và tổ chức sản xuất kinh doanh để tồn tại và phát triển. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, việc giảm thiểu chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực để tăng năng suất lao động là một thách thức lớn. Tiền lương và các khoản chi phí lao động khác là mục tiêu, lợi ích của người lao động nhưng lại là chi phí của doanh nghiệp. Việc giảm thiểu chi phí để nâng cao lợi nhuận luôn là bài toán khó gỡ của các doanh nghiệp, đặc biệt đó là chi phí lao động. Làm thế nào để hài hòa được mối quan hệ lợi ích giữa hai bên mà vẫn đảm bảo tính cạnh tranh của doanh nghiệp là mục tiêu và hướng đi của các doanh nghiệp phát triển theo hướng hiện đại.
Trước bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quyết liệt hiện nay thì việc xem xét các khoản chi phí lao động hợp lý nhằm giữ và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm phát triển doanh nghiệp trong nước cũng như vẫn thu hút được các doanh nghiệp FDI là hết sức cần thiết.
2. Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát:
Phân tích mối quan hệ giữa chi phí lao động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đảm bảo quyền lợi của người lao động trong bối cảnh hội nhập.
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa chi phí lao động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp;
- Tổng quan kinh nghiệm quốc tế về mối quan hệ giữa chi phí lao động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp;
- Đánh giá mối quan hệ giữa chi phí lao động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập;
- Đề xuất giải pháp nhằm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đảm bảo quyền lợi của người lao động trong bối cảnh hội nhập.
3. kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài được cấu trúc thành 3 chương chính:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về chi phí lao động và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Chương 2: Thực trạng chi phí lao động và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
- Chương 3: Khuyến nghị và giải pháp.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận về chi phí lao động và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Hệ thống hóa khái niệm: Định nghĩa chi phí lao động theo ILO gồm chi phí trực tiếp (tiền lương, thù lao, thưởng, phúc lợi hiện vật...) và chi phí gián tiếp (BHXH, chi phí tuyển dụng, đào tạo, bảo hộ lao động...). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được định nghĩa là khả năng duy trì, mở rộng thị phần, tối ưu hóa năng suất và đạt mức sinh lời/lợi nhuận cao dựa trên sự phát triển bền vững.
Xây dựng khung phân tích và mô hình định lượng: Sử dụng mô hình toán kinh tế là hàm sản xuất Cobb-Douglas nhằm chứng minh sự tác động tương quan trực tiếp của hai yếu tố đầu vào then chốt (Vốn - K) và Lao động (L) đến kết quả đầu ra của doanh nghiệp (doanh thu, thị phần, lợi nhuận).
Tổng quan nghiên cứu quốc tế: Chỉ ra xu hướng chung trên thế giới: trong ngắn hạn, khi chi phí lao động tăng 10% sẽ làm giảm khoảng 3% việc làm (hoặc giờ làm) do doanh nghiệp chưa kịp điều chỉnh vốn; đồng thời lược khảo kinh nghiệm thực tế về tác động của thuế lương, chi phí an sinh xã hội đến năng lực cạnh tranh tại Trung Quốc, Colombia và các nước OECD.
4.2. Chương 2: Thực trạng chi phí lao động và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
Bối cảnh thực thi chính sách (2010-2016): Rà soát các quy định pháp lý về lộ trình tăng lương tối thiểu vùng; các mốc thay đổi tỷ lệ đóng BHXH, BHYT, BHTN tổng cộng tăng lên mức 32,5% (trong đó người sử dụng lao động đóng 22%); và việc áp dụng thu kinh phí công đoàn bắt buộc 2% trên quỹ lương đối với mọi loại hình doanh nghiệp.
Thực trạng chi phí lao động: Chi phí lao động bình quân giai đoạn 2010-2015 có xu hướng tăng đều (chung toàn bộ doanh nghiệp tăng 12,39%/năm, riêng ngành dệt may - da giày tăng 15,38%/năm). Khối doanh nghiệp FDI luôn giữ mức chi phí lao động cao nhất, tiếp theo là khối tư nhân và thấp nhất là DNNN.
Hiện tượng "lách quy định": Đề tài chỉ ra thực tế là dù tỷ lệ đóng BHXH quy định theo luật rất cao (32,5%), nhưng số liệu thực tế ước lượng từ TCTK cho thấy tổng mức thực đóng BHXH chỉ chiếm khoảng 20% trên tổng thu nhập thực tế của người lao động. Doanh nghiệp có xu hướng hạ thấp mức lương nền đóng bảo hiểm và chuyển dịch thu nhập của người lao động sang các khoản phụ cấp không phải đóng bảo hiểm.
Đánh giá tác động đến khả năng cạnh tranh: Qua phân tích số liệu mô tả và kiểm định mô hình, đề tài đưa ra những kết luận cốt lõi:
Tác động của tiền lương: Việc điều chỉnh lương tối thiểu và tăng chi phí tiền lương chưa gây ảnh hưởng ngược chiều đến khả năng cạnh tranh. Chi phí tiền lương tăng vẫn có tác động cùng chiều làm tăng doanh thu bình quân/lao động và lợi nhuận bình quân/lao động (nhờ kích thích năng suất lao động và giá trị đầu ra).
Tác động của chi phí BHXH: Ngược lại với tiền lương, chi phí đóng BHXH có tác động tiêu cực/ngược chiều rõ rệt đến lợi nhuận. Khi chi phí BHXH tăng 1%, lợi nhuận bình quân/lao động của doanh nghiệp giảm từ 0,1% đến 0,17%. Dự báo việc siết chặt nền đóng BHXH có thể làm giảm lợi nhuận doanh nghiệp khoảng 7,6% và làm sụt giảm cầu lao động chính thức.
4.3. Chương 3: Khuyến nghị và giải pháp
Trên cơ sở phân tích bối cảnh kinh tế giai đoạn 2017-2020 (đổi mới mô hình tăng trưởng, tham gia sâu vào các FTA thế hệ mới như CPTPP...), đề tài đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:
Về phía Chính phủ:
- Tiếp tục cải cách, hoàn thiện thể chế phân phối tiền lương, đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; phát triển hạ tầng và tháo gỡ rào cản đầu tư để hỗ trợ doanh nghiệp giảm các chi phí sản xuất khác nhằm bù đắp chi phí lao động gia tăng.
- Cơ cấu lại chi phí đóng góp xã hội: Cân nhắc tách khoản chi phí kinh phí công đoàn ra khỏi tỷ lệ đóng bắt buộc dựa trên tổng quỹ lương. Nghiên cứu cải cách chính sách BHXH theo hướng chuyển dần sang hệ thống tài khoản cá nhân để tăng tính tuân thủ và củng cố lòng tin của người lao động.
- Hỗ trợ tài chính, khoa học - công nghệ thông qua Quỹ phát triển DNNVV để thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, công nghiệp hỗ trợ.
Về phía Doanh nghiệp:
- Thay đổi tư duy quản trị: Không giảm chi phí lao động một cách cơ học (cắt giảm lương, phúc lợi tiêu cực) mà phải giảm chi phí lao động dựa trên việc tổ chức lại bộ máy quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.
- Hiện đại hóa mô hình tổ chức (áp dụng mô hình mạng lưới, ma trận thay thế mô hình tháp truyền thống), nâng cao năng lực cán bộ quản lý.
- Tăng cường năng lực sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, chủ động liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu để tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao và đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động.
Thành viên đề tài:
Th.s. Nguyễn Thị Huyền, Viện Khoa học Lao động và Xã hội TS. Trần Sỹ Luận, Viện Khoa học Lao động và Xã hội Th.s. Dương Thị Hường, Viện Khoa học Lao động và Xã hội Th.s. Trần Thị Diệu, Viện Khoa học Lao động và Xã hội CN. Trần Thị Lý, Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Từ khóa:
Chi phí lao động Cạnh tranh Doanh nghiệp Hội nhập Việt Nam
|
Tên file |
View |
|
CB2017- 02 - 03
|
Đăng nhập để xem
|