Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong một số lĩnh vực nhằm thúc đẩy bình đẳng giới

Chủ nhiệm: ThS. Trịnh Thị Hoàng Anh

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm thúc đẩy bình đẳng giới (BĐG). Mục tiêu BĐG được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946, 1959, 1980, 1992 và sửa đổi toàn diện hơn vào năm 2013 với tinh thần kế thừa những quy định tốt đẹp trước đây và tiếp tục hoàn thiện, phát triển các quy định bảo đảm BĐG, bảo đảm quyền con người trên thực tế. Quan điểm và chủ trương này ngày càng được cụ thể hóa và thực thi trong quá trình hoàn thiện luật pháp, chính sách. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng đề ra định hướng về thực hiện BĐG và hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Đặc biệt, sự ra đời của Luật BĐG vào năm 2006 được coi là một dấu ấn quan trọng. Kể từ đó, vấn đề lồng ghép BĐG đã được xem xét bảo đảm thực hiện trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Chiến lược quốc gia về BĐG giai đoạn 2011 – 2020, Chương trình quốc gia về BĐG giai đoạn 2011 - 2015 và nhiều chính sách liên quan tiếp nối ra đời đã tạo nên một khung thể chế tiến bộ hơn bao giờ hết. Đặc biệt, Chiến lược quốc gia về BĐG giai đoạn 2011 – 2020 được coi là một bộ phận cấu thành quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện Chiến lược này, đó là Phát triển các hệ thống dịch vụ có chất lượng nhằm hỗ trợ nữ và nam bình đẳng về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; Tăng cường xã hội hóa và phối hợp liên ngành trong việc tổ chức các hoạt động về BĐG.

Trên thực tế, nhiều chương trình, hoạt động, mô hình cung cấp dịch vụ về BĐG cũng được triển khai hiệu quả nhằm giảm thiểu tình trạng bất BĐG, góp phần tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực, từng bước nâng cao vai trò và địa vị của phụ nữ.

Quá trình không ngừng hoàn thiện hệ thống thể chế về BĐG và những nỗ lực trên thực tế đã đưa đến những thành tựu đáng kể. Lần đầu tiên Việt Nam có 3 đồng chí nữ tham gia Bộ Chính trị, có Chủ tịch Quốc hội là nữ. Với tỷ lệ 26,8% nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV, Việt Nam xếp thứ 60/193 quốc gia trên thế giới và xếp thứ 4/11 quốc gia thuộc khu vực ASEAN. Lao động nữ (LĐN) chiếm tỷ lệ 48,3% trong lực lượng lao động của cả nước. Tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp đạt 31,6%. Những thành tựu trong thực hiện BĐG đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2016, Việt Nam đứng thứ 65 trên tổng số 144 nước về chỉ số khoảng cách giới (tăng 18 bậc so với năm 2015).

Tuy nhiên, những thành tựu nêu trên vẫn chưa đáp ứng được mong đợi của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam bởi việc thực hiện BĐG vẫn còn chậm, đôi khi còn trì trệ. Bất BĐG, bạo lực trên cơ sở giới phần lớn vẫn nghiêng về phụ nữ và trẻ em gái. Việc triển khai các mô hình dịch vụ về BĐG còn mới, chưa mang tính hệ thống, chưa thống nhất, chưa đáp ứng nhu cầu của các đối tượng trong xã hội, năng lực chuyên môn của cán bộ cung cấp dịch vụ còn hạn chế, quy trình thực hiện chưa chuyên nghiệp, cơ chế vận hành chưa rõ ràng, nguồn kinh phí eo hẹp.

Xuất phát từ những lý do này, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp Dịch vụ công (DVC) trong một số lĩnh vực nhằm thúc đẩy BĐG" là hết sức cần thiết.

2. Mục tiêu nghiên cứu

a. Mục tiêu chung: Đề tài nhằm mục tiêu cung cấp các luận cứ khoa học cho việc đề xuất quan điểm, mục tiêu, định hướng, giải pháp và lộ trình hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính (TTHC) và đổi mới cơ chế cung cấp DVC trong một số lĩnh vực nhằm thúc đẩy BĐG.

b. Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về cung cấp DVC trong lĩnh vực BĐG.

- Đánh giá thực trạng cung cấp các DVC trong lĩnh vực BĐG hiện nay.

- Đề xuất một số định hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp DVC trong một số lĩnh vực nhằm thúc đẩy BĐG.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu giới thiệu chung, kết luận và kiến nghị, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về cung cấp DVC nhằm thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực việc làm và PCBLVPN.

Chương 2: Thực trạng cung cấp các DVC nhằm thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực việc làm và PCBLVPN ở Việt Nam.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp DVC nhằm thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực việc làm và PCBLVPN ở Việt Nam.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về cung cấp DVC nhằm thúc đẩy BĐG

Chương 1 xây dựng khung lý luận toàn diện cho đề tài, tập trung vào ba nhóm nội dung chính.

Thứ nhất, đề tài làm rõ các khái niệm cơ bản, bao gồm: khái niệm BĐG theo khoản 3 Điều 5 Luật BĐG (nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực cho sự phát triển của cộng đồng, gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả phát triển đó); khái niệm DVC (những hoạt động phục vụ nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân vì lợi ích chung của xã hội, do Nhà nước chịu trách nhiệm trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền cho khu vực tư nhân thực hiện); và khái niệm DVC nhằm thúc đẩy BĐG (dịch vụ do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được nhà nước ủy quyền cung cấp nhằm tạo các cơ hội, điều kiện bình đẳng cho nam và nữ). DVC nhằm thúc đẩy BĐG hiện diện trong các lĩnh vực: lao động, việc làm; an sinh xã hội; y tế; giáo dục; tư pháp. Phạm vi đề tài giới hạn trong lĩnh vực việc làm và phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ (PCBLVPN).

Thứ hai, đề tài phân tích nội dung cung cấp DVC nhằm thúc đẩy BĐG theo ba phương diện: (i) Thể chế – khung luật pháp, chính sách quy định các khía cạnh của DVC về BĐG trong lĩnh vực việc làm và PCBLVPN; (ii) Thủ tục hành chính (TTHC) – quy trình, hồ sơ tiếp cận dịch vụ và ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục; (iii) Cơ chế – hệ thống bộ máy quản lý, chỉ đạo, điều hành, nguồn tài chính và phương thức xã hội hóa dịch vụ. Đề tài cũng xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng DVC về khía cạnh thúc đẩy BĐG theo bốn nhóm: tiêu chí về mục tiêu; tiêu chí phản ánh yếu tố đầu vào; tiêu chí về quá trình giải quyết công việc; và tiêu chí phản ánh đầu ra.

Thứ ba, đề tài tổng hợp kinh nghiệm quốc tế của Hàn Quốc, Hồng Công, Australia và Mỹ trong cung cấp DVC nhằm thúc đẩy BĐG. Hàn Quốc nổi bật với hệ thống luật pháp BĐG trong tuyển dụng lao động, dịch vụ xe buýt an toàn cho phụ nữ, cơ chế Nhà nước ban hành chính sách và các tổ chức phi chính phủ vận hành dịch vụ. Hồng Công xây dựng cổng thông tin điện tử một cửa tích hợp đầy đủ thông tin về dịch vụ việc làm và trông giữ trẻ. Australia và Mỹ triển khai dịch vụ nhân viên công tác xã hội hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong quá trình tố tụng. Từ kinh nghiệm quốc tế, đề tài rút ra bài học về: quản lý bằng chính sách pháp luật; đa dạng hóa phương thức quản lý DVC về BĐG; phát huy vai trò của nhà nước, tư nhân và các bên liên quan; ứng dụng công nghệ thông tin theo mô hình dịch vụ một cửa trực tuyến.

4.2. Chương 2: Thực trạng cung cấp các DVC nhằm thúc đẩy BĐG ở Việt Nam

Chương 2 đánh giá toàn diện thực trạng BĐG trong lĩnh vực việc làm và PCBLVPN, cùng với thực trạng thể chế, TTHC và cơ chế cung cấp DVC trong hai lĩnh vực này.

Về thực trạng BĐG và bạo lực với phụ nữ: LĐN chiếm 48,3% lực lượng lao động nhưng phải đối mặt nhiều rào cản trong tuyển dụng, đào tạo và thăng tiến. Nhiều doanh nghiệp áp dụng các điều kiện phân biệt đối xử theo giới khi tuyển lao động. Bạo lực đối với phụ nữ diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều địa bàn và lứa tuổi; phụ nữ thường e ngại tìm kiếm các dịch vụ hỗ trợ.

Về thể chế: Khung pháp lý về BĐG trong lĩnh vực việc làm tương đối hoàn thiện, song vẫn tồn tại nhiều quy định chưa nhạy cảm giới như danh mục 77 ngành nghề cấm sử dụng LĐN, quy định tuổi nghỉ hưu nữ thấp hơn nam 5 năm, thiếu chỉ tiêu về DVC việc làm có yếu tố giới trong Chiến lược BĐG. Trong lĩnh vực PCBLVPN, khung thể chế chưa đầy đủ: chưa có định nghĩa rõ về bạo lực trên cơ sở giới, thiếu cơ quan chịu trách nhiệm giải trình, thiếu cơ sở dữ liệu tập trung và thiếu quy chuẩn cho các cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ nạn nhân.

Về TTHC: Trong lĩnh vực việc làm, các thủ tục tiếp cận DVC (hỗ trợ học nghề, tư vấn giới thiệu việc làm, vay vốn tạo việc làm, chế độ thai sản) đã được công khai và triển khai trực tuyến, tạo thuận lợi cho người lao động. Tuy nhiên, các TTHC hiện nay còn thiếu và trung tính về giới, chưa có thủ tục riêng dành cho LĐN. Trong lĩnh vực PCBLVPN, quy trình bảo vệ nạn nhân bị áp dụng ngược so với thông lệ quốc tế (đưa nạn nhân vào nhà tạm lánh thay vì cách ly người gây bạo lực); thiếu hướng dẫn về thủ tục trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nạn nhân.

Về cơ chế: Bộ máy quản lý nhà nước về BĐG được thiết lập từ Trung ương (Vụ BĐG thuộc Bộ LĐTBXH) đến địa phương. Mạng lưới cơ sở cung cấp DVC gồm các Trung tâm dịch vụ việc làm, Trung tâm công tác xã hội, nhà tạm lánh và các tổ chức phi chính phủ. Nhiều mô hình thí điểm đã được triển khai như địa chỉ tin cậy, đường dây nóng, câu lạc bộ nữ công nhân. Tuy nhiên, tài chính cho DVC về BĐG còn hạn hẹp; đội ngũ cán bộ chưa đủ về số lượng và chất lượng; phần lớn mô hình còn ở giai đoạn thí điểm, chưa bền vững; cơ chế xã hội hóa DVC chưa được hoàn thiện.

Đánh giá chung theo các tiêu chí chất lượng DVC: mục tiêu DVC đã được xác định đúng đắn; luật pháp chính sách bước đầu phù hợp với điều kiện thực tiễn; cơ sở vật chất từng bước được hình thành; TTHC đã được công khai và bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin; song nhân sự cung cấp DVC còn thiếu nhạy cảm giới; cách tiếp cận trong phục vụ chưa coi phụ nữ là khách hàng, đối tác.

4.3. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp DVC nhằm thúc đẩy BĐG

Chương 3 phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội và đề xuất quan điểm, định hướng, giải pháp cụ thể cùng lộ trình thực hiện giai đoạn 2017 – 2020.

Về bối cảnh: Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng, đạt thành tựu tăng trưởng kinh tế - xã hội ấn tượng, BĐG và nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ là cam kết hàng đầu gắn với các Mục tiêu Phát triển bền vững đến năm 2030 (Mục tiêu 5 về BĐG và trao quyền cho phụ nữ). Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII nhấn mạnh đẩy mạnh xã hội hóa, tách cung ứng DVC khỏi chức năng quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả.

Về quan điểm và định hướng: Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp DVC về BĐG phải đi theo định hướng của Đại hội Đảng lần thứ XII; được tiến hành đồng bộ trong chương trình cải cách tổng thể nền hành chính; hướng đến xây dựng nền hành chính phục vụ lấy người dân làm trung tâm; ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin; đảm bảo công khai, minh bạch và tăng cường giám sát của người dân.

Về giải pháp về thể chế: Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với công tác BĐG; hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về BĐG và cung cấp DVC nhằm đạt mục tiêu BĐG; thực hiện lồng ghép vấn đề BĐG vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; đưa mục tiêu cung cấp DVC nhằm thúc đẩy BĐG vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường chính sách dành riêng cho từng nhóm phụ nữ (nữ cán bộ, công chức; phụ nữ nông thôn; LĐN trong khu công nghiệp; nữ chủ doanh nghiệp).

Về giải pháp về TTHC: Hình thành bộ TTHC cụ thể cho việc tiếp cận các loại hình DVC nhằm thúc đẩy BĐG; công khai rộng rãi TTHC; quy định rõ cơ quan chịu trách nhiệm; ứng dụng công nghệ thông tin giải quyết nhanh TTHC theo cơ chế một cửa liên thông; bố trí cán bộ hỗ trợ hướng dẫn khách hàng; đơn giản hóa thủ tục thành lập cơ sở ngoài công lập cung ứng DVC nhằm thúc đẩy BĐG.

Về giải pháp về cơ chế: Phát triển hệ thống DVC có chất lượng hỗ trợ bình đẳng cơ hội, tham gia và thụ hưởng; tăng cường xã hội hóa và phối hợp liên ngành; phân cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương; giải quyết thỏa đáng mối quan hệ công - tư trong cung cấp DVC; xây dựng hệ thống chỉ tiêu chất lượng DVC về BĐG; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ; cơ cấu lại chi ngân sách ưu tiên cho vùng khó khăn, phụ nữ yếu thế.

Về các mô hình mới đề xuất thí điểm: Trung tâm dịch vụ việc làm có bộ phận riêng hỗ trợ phụ nữ và dịch vụ trông trẻ tại chỗ; mạng lưới dịch vụ trông trẻ linh hoạt theo giờ và theo tháng; câu lạc bộ nữ công nhân nhà trọ tại khu công nghiệp; vườn ươm doanh nhân nữ; thành phố an toàn và thân thiện với phụ nữ (chiếu sáng công cộng, đội cảnh sát nữ xử lý quấy rối); trường học an toàn không bạo lực; đường dây nóng thống nhất toàn quốc về an toàn và ứng phó bạo lực trên cơ sở giới; ứng dụng điện thoại miễn phí tra cứu DVC về BĐG.

Về lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2017-2018 tiến hành nghiên cứu, khảo sát quốc gia về hệ thống chính sách và cơ sở cung cấp DVC nhằm thúc đẩy BĐG; giai đoạn 2018-2020 xây dựng chiến lược quốc gia về cung cấp DVC nhằm thúc đẩy BĐG. Các mô hình thực hiện theo lộ trình: khảo sát, lập kế hoạch (2017); thí điểm (2018); nhân rộng (2019-2020) và tổng kết, rút kinh nghiệm (2020).

 

Thành viên đề tài:

ThS. Nguyễn Thị Thu Hà, Chuyên viên chính Vụ Bình đẳng giới; ThS. Phạm Nguyên Cường, Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Bình đẳng giới; ThS. Trương Ngọc Anh, Chuyên viên Vụ Bình đẳng giới; ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình, Chuyên viên Bộ Giáo dục và Đào tạo; ThS. Nguyễn Thế Nghiệp, Chuyên viên Bộ Kế hoạch và Đầu tư; ThS. Nguyễn Khắc Tuấn, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; ThS. Trần Thị Thanh Tâm, Bộ Thông tin và Truyền thông.

Từ khóa: Bình đẳng giới Dịch vụ công Thể chế Cải cách hành chính Thủ tục hành chính Lĩnh vực việc làm Phòng chống bạo lực với phụ nữ Việt Nam

Tên file View
CT2016-02-13.pdf Đăng nhập để xem
Nghiên cứu, xây dựng quy trình kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Đào Thị Ngọc Lợi

Lĩnh vực: Chính sách người có công và bình đẳng giới

Năm hoàn thành: 2022

Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý trường hợp đối với trẻ em cần sự bảo vệ

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Thị Nhung

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Thiết kế và chế tạo hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Hoàng Anh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới chính sách ưu đãi người có công trong tình hình mới

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Bác sỹ CKII. Đào Ngọc Lợi

Lĩnh vực: Chính sách người có công và bình đẳng giới

Năm hoàn thành: 2021

Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đề xuất giải pháp thúc đẩy việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Chí Trường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp phát triển đào tạo kỹ năng số cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |