Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp xã hội
Chủ nhiệm:
ThS. Nguyễn Văn Hồi
Năm đăng ký:
2016
Năm nghiệm thu:
2017
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
Theo kết quả từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở cũng như một số điều tra quốc gia hàng năm và điều tra mẫu, Việt Nam hiện có 96 triệu dân, trong đó có khoảng trên 10 triệu người cao tuổi, dân số Việt Nam đang già hóa với tốc độ chưa từng có. Năm 2011, tỷ lệ người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên trong tổng dân số đã lên tới 10% và Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ "già hóa dân số". Theo dự báo của Tổng cục thống kê, đến năm 2038, tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên của Việt Nam sẽ vào khoảng 20% và bắt đầu giai đoạn dân số già và năm 2050 là 26%. Già hoá dân số đặt ra nhiều thách thức và cơ hội cho phát triển kinh tế-xã hội. Trong bối cảnh già hoá dân số, vấn đề chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi là một trong những nội dung mà chính sách, pháp luật của các quốc gia cần đặc biệt quan tâm, làm sao vừa đảm bảo người cao tuổi có cuộc sống khỏe mạnh, vui tươi đồng thời phát huy những giá trị nhân văn, tích cực của người cao tuổi đối với toàn xã hội.
Hiện nay, cả nước có 418 cơ sở trợ giúp xã hội, trong đó có 195 cơ sở công lập và 218 cơ sở ngoài công lập, gồm 32 cơ sở chăm sóc người cao tuổi, 73 cơ sở chăm sóc người khuyết tật, 141 cơ sở chăm sóc trẻ em, 102 cơ sở tổng hợp, 31 cơ sở chăm sóc người tâm thần và 34 trung tâm công tác xã hội. Các cơ sở trợ giúp xã hội đã tiếp nhận, nuôi dưỡng và chăm sóc nhiều loại đối tượng bảo trợ xã hội khác nhau, trong đó, số đối tượng là người già cô đơn chiếm tỷ lệ 10,3%. Các cơ sở trợ giúp xã hội cung cấp các dịch vụ như tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội; tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, lao động sản xuất, dạy văn hoá, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp và cung cấp các dịch vụ công tác xã hội, đáp ứng nhu cầu trợ giúp xã hội cho 30% đối tượng có hoàn cảnh khó khăn.
Để trợ giúp cho đối tượng, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để trợ giúp và chăm sóc cho người cao tuổi. Đặc biệt các chính sách ngày càng mang tính hội nhập quốc tế, phát huy truyền thống văn hoá, nhân văn của dân tộc và mang tính xã hội hoá, giảm ỷ lại vào nhà nước; hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân viên công tác xã hội làm việc trong lĩnh vực an sinh xã hội ngày càng được mở rộng. Luật Người cao tuổi được Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009 đã tạo khuôn khổ pháp lý bảo đảm quyền và lợi ích của người cao tuổi. Tuy nhiên, hệ thống dịch vụ xã hội dành cho đối tượng bảo trợ xã hội chưa phát triển một cách đồng bộ; thể chế chính sách, thể chế tài chính, thể chế về tổ chức, nhân lực và nhận thức còn khoảng cách rất lớn so với yêu cầu hoàn thiện và phát triển hệ thống phúc lợi xã hội. Chính vì những lí do trên mà cần thiết phải nghiên cứu toàn diện cả về lý luận và thực tiễn hệ thống chính sách phúc lợi xã hội và dịch vụ xã hội trợ giúp người cao tuổi. Xuất phát từ những lý do này, nhóm tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp xã hội" (tập trung vào đối tượng người cao tuổi).
2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu chung: Cung cấp các luận cứ khoa học cho việc đề xuất quan điểm, mục tiêu, định hướng, giải pháp và lộ trình hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp xã hội cho người cao tuổi.
b. Mục tiêu cụ thể:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp người cao tuổi;
Đánh giá thực trạng cung cấp các dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp người cao tuổi;
Đưa ra quan điểm, định hướng, giải pháp hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp người cao tuổi.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận còn có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp người cao tuổi.
Chương II: Thực trạng cung cấp các dịch vụ công trong trợ giúp người cao tuổi.
Chương III: Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp người cao tuổi ở Việt Nam.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương I: Cơ sở lý luận về dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp người cao tuổi
Chương I làm rõ các khái niệm cốt lõi và cơ sở lý luận về dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp người cao tuổi. Đề tài xác định khái niệm "người cao tuổi" theo Luật Người cao tuổi Việt Nam là công dân từ đủ 60 tuổi trở lên, đồng thời phân tích tính tương đối và biến động của mốc tuổi này theo từng quốc gia và giai đoạn lịch sử.
Về dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp xã hội, đề tài luận giải rằng đây là những dịch vụ thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước, do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hoặc do tư nhân được nhà nước uỷ quyền thực hiện, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích cơ bản của các đối tượng yếu thế trong xã hội. Dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp người cao tuổi được chia thành hai nhóm: dịch vụ hành chính công (xác định đối tượng, cấp phát trợ cấp, quản lý đối tượng) và dịch vụ sự nghiệp công (chăm sóc nuôi dưỡng, phục hồi chức năng, công tác xã hội, tư vấn tâm lý).
Đề tài phân tích các khái niệm về thể chế cung cấp dịch vụ công (bao gồm quan điểm, tư tưởng, các quy định phân quyền và các biện pháp bảo đảm công bằng trong phân phối dịch vụ) và cơ chế cung cấp dịch vụ công (cách thức, phương pháp tổ chức thực hiện cung ứng dịch vụ, thể hiện mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ và người thụ hưởng). Đặc biệt, đề tài nhấn mạnh xu hướng đa dạng hóa chủ thể cung cấp dịch vụ, theo đó Nhà nước giữ vai trò điều tiết trong khi khuyến khích khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội tham gia.
Chương I còn xem xét kinh nghiệm quốc tế từ Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển, Cộng hòa Pháp và một số nước đang phát triển về xây dựng hệ thống dịch vụ công trợ giúp người cao tuổi, đúc kết các bài học có giá trị tham khảo cho Việt Nam, đặc biệt là về mô hình xã hội hóa dịch vụ, cơ chế tài chính linh hoạt và đảm bảo quyền tiếp cận bình đẳng của người cao tuổi với hệ thống phúc lợi.
4.2. Chương II: Thực trạng cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp người cao tuổi
Chương II đánh giá toàn diện thực trạng người cao tuổi và tình hình cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp xã hội tại Việt Nam. Về tổng quan dân số, Việt Nam có tốc độ già hóa nhanh nhất khu vực châu Á; dự báo giai đoạn chuyển từ "bắt đầu già" sang "già" chỉ trong 20 năm (2017–2037). Người cao tuổi Việt Nam sống thọ nhưng tuổi thọ khỏe mạnh thấp (66/73,2 tuổi), trung bình mỗi người cao tuổi mắc 2,7 bệnh. Tỷ lệ người cao tuổi tham gia các hoạt động kinh tế còn cao (gần 30%), cho thấy nhiều người cao tuổi chưa có điều kiện nghỉ ngơi phù hợp.
Về hệ thống thể chế cung cấp dịch vụ công, đề tài hệ thống hóa các văn bản pháp luật quan trọng, từ Luật Người cao tuổi (2009), Nghị định 136/2013/NĐ-CP về chính sách trợ giúp xã hội đến Nghị định 103/2017/NĐ-CP quy định điều kiện thành lập, hoạt động và giải thể cơ sở trợ giúp xã hội. Mặc dù hệ thống pháp luật đã tương đối đầy đủ, song vẫn còn chồng chéo, thiếu đồng bộ và chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn.
Tính đến tháng 12/2014, cả nước có 402 cơ sở bảo trợ xã hội với 15.322 cán bộ, nhân viên, chăm sóc nuôi dưỡng 41.434 đối tượng, trong đó có 4.723 người cao tuổi. Khu vực tư nhân đã tham gia với 189 cơ sở ngoài công lập (chiếm 47%), song quy mô nhỏ và chủ yếu chăm sóc trẻ em. Đáng chú ý, mô hình "nhà dưỡng lão" tư nhân tại Hà Nội đã thu hút hàng trăm người cao tuổi với chi phí từ 6–10 triệu đồng/người/tháng.
Đề tài chỉ ra nhiều hạn chế nghiêm trọng: mức trợ cấp sinh hoạt phí còn thấp so với giá cả thị trường; chế độ tiền lương cho cán bộ nhân viên bất hợp lý; cơ cấu biên chế bất cân đối (cán bộ hành chính chiếm 15–21%); tỷ lệ cán bộ chuyên môn y tế thiếu (bình quân 1 bác sĩ/40 đối tượng); khoảng 29% nhân viên chưa qua đào tạo chuyên môn; thiếu cơ chế cụ thể khuyến khích khu vực tư nhân tham gia, đặc biệt về đất đai, hạ tầng và ưu đãi thuế. Mặt khác, vai trò quản lý của Nhà nước trong xã hội hóa còn hạn chế, dễ nhầm lẫn giữa xã hội hóa với tư nhân hóa.
4.3. Chương III: Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp người cao tuổi ở Việt Nam
Chương III phân tích bối cảnh và đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới. Về bối cảnh, Việt Nam đang đối mặt với xu hướng già hóa dân số nhanh chưa từng có – thời gian chuyển từ "bắt đầu già" sang "dân số già" chỉ khoảng 20 năm, ngắn hơn nhiều so với Nhật Bản (26 năm) và Thái Lan (22 năm). Trong bối cảnh kinh tế mới đạt mức thu nhập trung bình thấp, đây là thách thức rất lớn đòi hỏi phải cải cách mạnh mẽ hệ thống dịch vụ công trợ giúp người cao tuổi.
Về quan điểm và định hướng đổi mới, đề tài khẳng định cần từng bước chuyển đổi từ mô hình độc quyền nhà nước sang đa dạng hóa chủ thể đầu tư, chi trả phí và tổ chức cung ứng. Theo tinh thần các Nghị quyết Đại hội Đảng (VIII, X, XI, XII), cần đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực dịch vụ công, tăng quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở trợ giúp xã hội công lập, đồng thời thu hút mạnh mẽ khu vực tư nhân, các tổ chức phi lợi nhuận và các hình thức hợp tác công tư (PPP).
Về giải pháp hoàn thiện thể chế, đề tài đề xuất: rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về trợ giúp xã hội; mở rộng phương án tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và nhân sự; xây dựng cơ chế cụ thể khuyến khích khu vực tư nhân tham gia (đặc biệt về đất đai, hạ tầng, ưu đãi thuế); xác lập danh mục dịch vụ Nhà nước cần giữ và danh mục có thể ủy quyền cho khu vực ngoài nhà nước.
Về phát triển mạng lưới cơ sở trợ giúp người cao tuổi, đề tài đề xuất mục tiêu 90% người cao tuổi không có người phụng dưỡng được trợ giúp và chăm sóc; nâng cấp 30 cơ sở hiện có và xây dựng mới 20 cơ sở; gia tăng tỷ lệ cơ sở ngoài công lập đạt tối thiểu 50% tổng số cơ sở; đầu tư cơ sở vật chất đạt tiêu chuẩn quốc tế (diện tích tối thiểu 30m²/đối tượng ở nông thôn, 10m²/đối tượng ở đô thị; phòng ở tối thiểu 6m²/đối tượng). Đề tài cũng xác định nhu cầu phân bố cơ sở theo các vùng kinh tế trọng điểm.
Về cải cách hành chính dịch vụ công, đề tài đề xuất chuyển từ tư duy "quản lý, áp đặt" sang tư duy "phục vụ"; tiếp tục cải cách và đơn giản hóa thủ tục hành chính; thực hiện nhất quán cơ chế "một cửa, một cửa liên thông"; công khai các quy trình giải quyết công việc, biểu mẫu và phí lệ phí; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin; xóa bỏ các thủ tục không cần thiết theo phương án được đề xuất cụ thể trong phụ lục đề tài (bao gồm gộp các thủ tục tương đương tại cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã). Đề tài cũng nhấn mạnh việc xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người cao tuổi trong tiếp cận dịch vụ.
Ngoài ra, đề tài còn đề xuất nhóm giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi tại cơ sở bảo trợ xã hội (hoàn thiện quy chế hoạt động, nâng mức trợ cấp sinh hoạt phí, cải thiện chế độ lương cho cán bộ nhân viên, tăng cường đào tạo chuyên môn và phát triển nghề công tác xã hội); giải pháp về tài chính (đa dạng nguồn tài chính từ ngân sách trung ương, địa phương, đóng góp cộng đồng và tài trợ quốc tế); và giải pháp quy hoạch đất đai, cơ sở hạ tầng cho mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội.
Thành viên đề tài:
Trần Cảnh Tùng - Cục Bảo trợ xã hội; Phó Chủ nhiệm đề tài: TS. Tô Đức - Cục Bảo trợ xã hội; TS. Nguyễn Hải Hữu - Hiệp hội GDNN và nghề CTXH; Ths. Phạm Đại Đồng - Cục Bảo trợ xã hội; Ths. Nguyễn Trung Thành - Cục Bảo trợ xã hội; Ths. Nguyễn Thủy Nguyên - Cục Bảo trợ xã hội; Ths. Bùi Văn Tứ - Viện KHLĐXH.
Từ khóa:
Trợ giúp xã hội Dịch vụ công Người cao tuổi Thể chế Cải cách hành chính Cơ chế cung cấp dịch vụ Xã hội hóa. Bảo trợ xã hội
|
Tên file |
View |
|
CT2016-02-09.pdf
|
Đăng nhập để xem
|