Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giảm nghèo
Chủ nhiệm:
TS. Nguyễn Tuấn Anh
Năm đăng ký:
2016
Năm nghiệm thu:
2017
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách thể chế, cải cách hành chính nhằm đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực là chủ trương của Đảng và nhà nước. Ở Việt Nam, quá trình chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang vận hành theo cơ chế thị trường đòi hỏi cần phải phát triển mạnh mẽ hơn nữa các dịch vụ công do Nhà nước cung cấp, cải cách thể chế, cải cách hành chính và chuyển giao những lĩnh vực dịch vụ công cho các doanh nghiệp, tổ chức xã hội và tư nhân thực hiện.
Cung cấp dịch vụ công là một chức năng quan trọng của nhà nước đối với xã hội trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo sự bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ công của mọi người dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế như người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo…
Giai đoạn vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo như các chính sách về miễn giảm học phí, chính sách khám chữa bệnh bảo hiểm y tế… Tuy nhiên, qua đánh giá của Quốc hội khóa 13, các chính sách hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo mặc dù đã bao phủ hầu hết mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội của đối tượng nhưng lại tản mạn ở nhiều văn bản chính sách khác nhau, định mức hỗ trợ thấp chưa tạo đủ mạnh để hộ nghèo thoát nghèo bền vững. Yêu cầu đặt ra đối với việc cải cách thể chế, cải cách hành chính, đổi mới cung ứng dịch vụ công cho đối tượng nghèo là rất cấp bách, đặc biệt trong giai đoạn 2016-2020 khi hộ nghèo đã được xác định trên các yếu tố đa chiều (sự thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản).
Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo, đơn vị giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, tham mưu cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trình Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ các giải pháp thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững nhận thấy rằng việc nghiên cứu "hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giảm nghèo là cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công các lĩnh vực lao động, người có công và xã hội của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Cung cấp các luận cứ lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất quan điểm, mục tiêu, định hướng, mô hình, giải pháp và lộ trình hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công lĩnh vực giảm nghèo, thông qua các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể: hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến thể chế, cải cách thủ tục hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giảm nghèo; phân tích thực trạng; và đề xuất giải pháp hoàn thiện cho giai đoạn tiếp theo.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về hoàn thiện thể chế và cải cách hành chính, đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giảm nghèo.
Chương II: Thực trạng thể chế, cải cách hành chính và cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giảm nghèo.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giảm nghèo.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương I: Cơ sở lý luận về hoàn thiện thể chế và cải cách hành chính, đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giảm nghèo
Chương I xây dựng nền tảng lý luận về dịch vụ công (DVC) trong lĩnh vực giảm nghèo. Đề tài xác định DVC là những hoạt động của Nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước ủy quyền nhằm cung cấp hàng hóa công phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, mang tính phi lợi nhuận, góp phần đảm bảo công bằng và ổn định xã hội. DVC được phân loại gồm dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công ích. Trong lĩnh vực giảm nghèo, DVC được hiểu là hoạt động cung cấp dịch vụ của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bình đẳng về các nhu cầu kinh tế, chính trị, xã hội; đồng thời tạo điều kiện cho các địa bàn nghèo phát triển kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.
Gắn với tiếp cận nghèo đa chiều, DVC thiết yếu cho người nghèo bao gồm: (i) dịch vụ hành chính công như xét duyệt hộ nghèo, hộ cận nghèo, chứng nhận hộ nghèo; (ii) dịch vụ sự nghiệp công gồm giáo dục đào tạo, y tế và bảo hiểm y tế, vay vốn tín dụng ưu đãi; và (iii) dịch vụ công ích gồm cơ sở hạ tầng, nước sạch vệ sinh, điện thắp sáng. Chương I cũng phân tích hệ thống thể chế, chính sách trong từng lĩnh vực: giáo dục (từ chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đại hội VII đến Nghị quyết TW8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục); y tế (Nghị quyết 46-NQ/TW về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân); tín dụng ưu đãi (quá trình hình thành từ Ngân hàng Phục vụ người nghèo năm 1995 đến Ngân hàng Chính sách xã hội năm 2002); và cơ sở hạ tầng (Chương trình 135, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP). Đề tài cũng nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, trong đó nhấn mạnh quan điểm của Ngân hàng Thế giới về mối quan hệ giữa nâng cao hiệu quả thể chế, DVC và giảm nghèo bền vững.
4.2. Chương II: Thực trạng thể chế, cải cách hành chính và cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giảm nghèo
Chương II phân tích thực trạng cung cấp DVC trong bốn lĩnh vực trọng tâm giai đoạn 2011-2015. Về giáo dục: Nhà nước đã có nhiều cố gắng mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ giáo dục, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi tiểu học tăng từ 89,3% (2006) lên 92,4% (2012). Song tỷ lệ nhập học càng giảm ở bậc học cao, trẻ em nghèo ít cơ hội học thêm; học phí và các khoản đóng góp trở thành gánh nặng cho hộ nghèo. Về y tế: tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 81,7% dân số (cuối năm 2016), song trên 50% người nghèo vẫn không sử dụng dịch vụ y tế trước khi chết (giai đoạn 2001-2002); người nghèo gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng cao.
Về tín dụng ưu đãi: đến 31/12/2015, NHCSXH đã có mạng lưới 63 chi nhánh cấp tỉnh, 626 phòng giao dịch cấp huyện và gần 11.000 điểm giao dịch tại xã; trên 27,9 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách được vay vốn, góp phần giúp gần 4 triệu hộ vượt ngưỡng nghèo; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,2% (2011) xuống 4,25% (2015). Về cơ sở hạ tầng: giai đoạn 2009-2014, các huyện nghèo đã đầu tư trên 5.700 công trình; giai đoạn 2011-2015, đầu tư 2.542 công trình cho 311 xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK) vùng bãi ngang ven biển và hải đảo với tổng vốn 2.129,567 tỷ đồng, tỷ lệ hộ nghèo bình quân giảm còn 8% vào cuối năm 2015. Tuy nhiên, nhiều huyện nghèo vùng núi cao vẫn còn thiếu công trình đáp ứng dịch vụ xã hội cơ bản; quản lý vốn đầu tư ở một số địa phương còn dàn trải, chậm triển khai, thậm chí sai mục đích. Chương II cũng chỉ ra những tồn tại chung: cơ chế quản lý và phương thức hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập chưa được đổi mới đồng bộ; chất lượng và hiệu quả cung ứng dịch vụ sự nghiệp chưa tương xứng với nhu cầu thực tiễn; sự phân tán chính sách giữa các Bộ, ngành gây thiếu thống nhất trong quản lý và điều phối.
4.3. Chương III: Giải pháp hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giảm nghèo
Trên cơ sở phân tích bối cảnh và quan điểm của Đảng (từ Đại hội IX đến XII) về xã hội hóa DVC, Chương III đề xuất tám định hướng cải cách: tăng cường chỉ đạo cải cách hành chính từ trung ương đến địa phương; đổi mới quản lý nhà nước đối với DVC theo hướng tách bạch sự nghiệp với hành chính; đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức làm dịch vụ; nâng cao năng lực cán bộ cải cách hành chính; thiết lập chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức công lập; tạo hành lang pháp lý và tiêu chuẩn vị trí việc làm; kiểm tra đánh giá thường xuyên cải cách hành chính; và ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp DVC.
Đề tài đề xuất bốn nhóm giải pháp chính:
(1) Hoàn thiện thể chế cung cấp DVC theo từng lĩnh vực - giáo dục (đảm bảo 20% tổng chi NSNN, hỗ trợ học phí trực tiếp cho học sinh nghèo, tích hợp các văn bản hỗ trợ giáo dục), y tế (điều chỉnh giá dịch vụ KBCB theo lộ trình đến 2020, sắp xếp quy hoạch hệ thống y tế, đa dạng hóa nguồn vốn), tín dụng ưu đãi (xã hội hóa nguồn vốn, mở rộng đối tượng hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo, thí điểm cho vay theo hạn mức tín dụng), cơ sở hạ tầng (đa dạng hóa nguồn lực, phân bổ vốn trung hạn, áp dụng cơ chế đặc thù theo Nghị định 161/2016/NĐ-CP).
(2) Cải cách thủ tục hành chính: cắt giảm, công khai minh bạch thủ tục; đẩy mạnh ứng dụng CNTT; cải tiến quy trình khám bệnh; nâng cao vai trò của chính quyền địa phương và các đoàn thể trong thống kê hộ nghèo.
(3) Đổi mới cơ chế cung cấp DVC: áp dụng hợp tác công tư, xã hội hóa DVC, các mô hình cung ứng linh hoạt phù hợp với đối tượng người nghèo.
(4) Xây dựng và nhân rộng các mô hình DVC hiệu quả trong lĩnh vực giảm nghèo, xây dựng hệ thống mạng lưới cung cấp DVC tại tất cả các tuyến từ trung ương đến cộng đồng địa phương.
Thành viên đề tài:
Ths. Lều Thị Minh Hạnh - Thư ký; CN. Ngô Trường Thi - Thành viên; Ths. Chu Thị Hạnh - Thành viên; TS. Sơn Thanh Tùng - Thành viên; Ths. Nguyễn Hữu Điệp - Thành viên; Ths. Nguyễn Tấn Nhựt - Thành viên; Ths. Hoàng Trọng Nghĩa- Thành viên
Từ khóa:
Dịch vụ công giảm nghèo nghèo đa chiều thể chế cải cách hành chính y tế giáo dục tín dụng ưu đãi cơ sở hạ tầng xã hội hóa dịch vụ công
|
Tên file |
View |
|
CT2016-02-10.pdf
|
Đăng nhập để xem
|