Giải pháp tạo việc làm cho lao động bị mất đất sản xuất do nước biển dâng khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long
Chủ nhiệm:
Ths. Lê Ngự Bình
Năm đăng ký:
2015
Năm nghiệm thu:
2016
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra ở quy mô toàn cầu, trong khu vực và Việt Nam do các hoạt động của con người theo tốc độ phát triển kinh tế – xã hội của các nước làm tăng phát thải khí nhà kính quá mức vào bầu khí quyển. Hệ quả của các hiện tượng này là quá trình nước biển dâng (NBD) tác động nghiêm trọng tới đời sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn cầu. Theo IPCC (2007), nhiệt độ trung bình bề mặt toàn cầu sẽ tăng 2°C - 4,5°C vào năm 2100 (so với thời kỳ 1980 - 1999) tương ứng với mực nước biển trung bình toàn cầu sẽ tăng thêm 0,18m - 0,59m vào thời kỳ 2090 – 2099 so với kỳ so sánh. Kết quả quan trắc bằng thiết bị vệ tinh trong giai đoạn 1993-2003 cho thấy tốc độ NBD bình quân khoảng 3,1±0,7 mm/năm, đặc biệt các dải băng ở Tây Nam Cực đang tan chảy một cách không thể kiểm soát, đẩy nhanh quá trình NBD, nguy cơ phá vỡ các kịch bản BĐKH được IPCC xây dựng.
Kịch bản BĐKH và NBD cho Việt Nam (năm 2012) với mức phát thải khí nhà kính trung bình, đến năm 2100 mực nước biển có thể dâng cao thêm 1m so với kỳ gốc. Với kịch bản này hầu hết các tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ bị ảnh hưởng, ước tính có tới khoảng 39% diện tích đất tự nhiên, 32,16% diện tích đất nông nghiệp (khoảng 40% diện tích trồng trọt) bị ngập trong nước biển tương ứng với 1.147.400 ha và sẽ có tương ứng khoảng 2 triệu nông dân phải rời bỏ hoặc chuyển đổi hệ thống canh tác nông nghiệp, gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng ĐBSCL bị ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống và sinh kế hiện tại, thiệt hại có thể lên tới 10% GDP mỗi năm. Theo Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, NBD đã gia tăng tình trạng nhiễm mặn của khu vực ĐBSCL, số liệu quan trắc 03 năm trở lại đây cho thấy nước mặn từ 1‰ - 4‰ đã xâm nhập sâu vào khu vực ĐBSCL từ 50-60 km trong mùa khô (tháng 3,4) và nhập sâu khoảng 70km ở giai đầu mùa mưa (tháng 5,6).
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã chủ động xây dựng các chính sách và thực hiện các chương trình, hoạt động phòng chống thiên tai và lồng ghép giảm nhẹ rủi ro thiên tai (DRR) và thích ứng với biến đổi khí hậu (CCA), gắn với xây dựng quy hoạch, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của các Bộ, ngành, các cơ quan, các cấp cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, vấn đề quy hoạch lao động việc làm, chuyển dịch lao động bị mất đất sản xuất bởi NBD chưa được quan tâm. Do vậy, cần thiết phải tiến hành một nghiên cứu đề xuất giải pháp chính sách về tạo việc làm, chuyển đổi việc làm cho người dân bị mất đất do NBD ở vùng ĐBSCL nhằm hỗ trợ tốt hơn cho công tác quy hoạch, quản lý lao động việc làm, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân tại khu vực ở ĐBSCL trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu chung: Đề xuất các giải pháp tạo việc làm, chuyển đổi việc làm cho người lao động bị mất đất sản xuất bởi tác động của BĐKH và NBD khu vực ĐBSCL.
b. Mục tiêu cụ thể:
- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo việc làm cho lao động bị mất đất do ảnh hưởng của nước biển dâng;
- Đánh giá thực trạng việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp điển hình của người lao động mất đất sản xuất do tác động của BĐKH tại địa bàn khảo sát;
- Đánh giá các chính sách hiện hành, các hỗ trợ trong việc hỗ trợ tạo việc làm, chuyển đổi nghề cho người lao động mất đất sản xuất do tác động của BĐKH;
- Đề xuất một số giải pháp, gợi ý chính sách tạo việc làm, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động mất đất thích ứng ảnh hưởng của nước biển dâng khu vực ĐBSCL.
3. Kết cấu của đề tài Gồm 4 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về mất đất sản xuất do nước biển dâng.
Chương II: Thực trạng lao động việc làm khu vực ĐBSCL và tác động của nước biển dâng.
Chương III: Đề xuất giải pháp tạo việc làm cho lao động mất đất sản xuất tại khu vực ĐBSCL.
Chương IV: Kết luận và khuyến nghị.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương I, đề tài xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về mất đất sản xuất do nước biển dâng:
Hệ thống hóa các khái niệm cơ bản về biến đổi khí hậu, nước biển dâng, mất đất sản xuất và việc làm. Đề tài xác định NBD là hệ quả của BĐKH, dẫn đến các hiện tượng xói lở bờ biển, xâm nhập mặn, ngập lũ và ngập do nước biển xâm lấn. Trong phạm vi nghiên cứu, mất đất sản xuất do NBD được hiểu là trường hợp đất sản xuất bị sạt lở, ngập, xâm mặn khiến người lao động mất hẳn phần đất để sản xuất hoặc đất bị thay đổi chất lượng không thể sử dụng như tư liệu sản xuất nông nghiệp trong một thời gian nhất định.
Đề tài phân tích các lý thuyết tạo việc làm gồm Mô hình Lewis (hai khu vực), Mô hình tân cổ điển, Mô hình Oshima, Lý thuyết Keynes và Lý thuyết di chuyển lao động của Todaro; đồng thời chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm như điều kiện tự nhiên, đặc điểm người lao động, cơ chế chính sách và kết nối cung cầu lao động.
Về cơ sở thực tiễn, đề tài tổng quan các nghiên cứu quốc tế và trong nước liên quan đến tạo việc làm cho lao động mất đất; đúc kết bài học kinh nghiệm từ ba trường hợp điển hình trong nước gồm: Khu kinh tế Dung Quất, Chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư vượt lũ ĐBSCL và Chương trình sắp xếp dân cư vùng thiên tai. Điểm chung rút ra là cần gắn kết chính sách tái định cư với tạo việc làm, đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường và hỗ trợ vốn linh hoạt cho người lao động mất đất.
4.2. Chương II, đề tài đánh giá thực trạng lao động việc làm khu vực ĐBSCL và tác động của nước biển dâng:
Phân tích bức tranh thị trường lao động ĐBSCL giai đoạn 2010-2014: Dân số toàn vùng đạt trên 17,5 triệu người với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đạt 83,57%, cao hơn bình quân cả nước. Tỷ lệ lao động trong nông-lâm-thủy sản chiếm 50,84%, công nghiệp-xây dựng 16,66% và dịch vụ 32,48%. Tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn đạt 4,80%, cao nhất cả nước và gấp khoảng 4 lần so với vùng Đông Nam Bộ. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chỉ đạt 10,3%, thấp nhất trong các vùng kinh tế. Tỷ lệ xuất cư ròng của ĐBSCL thuộc mức cao nhất nước, lao động di cư chủ yếu làm công nhân (44,3%) hoặc việc làm giản đơn (37%) tại các tỉnh Đông Nam Bộ.
Phân tích tác động của NBD tới lao động việc làm tại hai tỉnh khảo sát Kiên Giang và Cà Mau: Hiện tượng xâm nhập mặn ngày càng diễn ra sớm hơn, kéo dài hơn và độ mặn ngày càng cao, ảnh hưởng toàn bộ 13/13 tỉnh thành, trong đó 6/13 tỉnh phải công bố tình trạng thiên tai ngập mặn trong vụ Đông-Xuân 2016. Theo kịch bản NBD 1m, ước tính có khoảng 2,5 triệu lao động nông nghiệp đứng trước nguy cơ thiếu việc và mất việc làm; ngành thủy sản với hơn 877.800 lao động bị ảnh hưởng nghiêm trọng do thay đổi môi trường. Xói lở bờ biển tại ĐBSCL ảnh hưởng 265 điểm với tổng chiều dài hơn 450 km, mỗi năm mất khoảng 500 ha đất.
Về biện pháp ứng phó, đề tài ghi nhận cả hai chiều: chính quyền địa phương đã triển khai các giải pháp công trình (nâng cấp đê biển, hệ thống ngăn mặn), trồng phục hồi rừng ngập mặn, ứng dụng mô hình sinh kế thích ứng và xây dựng khu tái định cư. Người dân tự ứng phó bằng cách chuyển đổi loại hình canh tác (từ lúa sang tôm-lúa, nuôi trồng thủy sản), di cư và đi làm thuê tại địa phương hoặc các tỉnh lân cận.
4.3. Chương III, trên cơ sở phân tích bối cảnh và đề xuất giải pháp tạo việc làm cho lao động mất đất tại khu vực ĐBSCL:
Đề tài xem xét bối cảnh từ ba góc độ: (i) Định hướng phát triển kinh tế-xã hội ĐBSCL đến năm 2020 và 2030 theo Quyết định 245/QĐ-TTg (mục tiêu tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 70%, tạo thêm 17-17,5 vạn lao động/năm giai đoạn 2016-2020); (ii) Hệ thống cơ chế chính sách lao động việc làm hiện hành; (iii) Kịch bản BĐKH và NBD của Bộ TN&MT năm 2012.
Mô hình kinh tế lượng (Logit) phân tích số liệu VHLSS 2012 cho thấy: khả năng làm việc phi nông nghiệp cao nhất ở nhóm tuổi 20-34; trình độ chuyên môn kỹ thuật có tác động thuận chiều và rõ rệt (lao động có trình độ đại học trở lên có xác suất làm việc phi nông nghiệp cao nhất là 32,42%); diện tích đất sản xuất bình quân đầu người tỷ lệ nghịch với khả năng chuyển dịch sang phi nông nghiệp; số cơ sở sản xuất kinh doanh trong xã tỷ lệ thuận với cơ hội việc làm phi nông nghiệp.
Phân tích SWOT cho thấy điểm mạnh của ĐBSCL là đất đai màu mỡ, bờ biển dài, LLLĐ trẻ, tiềm năng FDI; điểm yếu là cơ sở hạ tầng còn hạn chế, chất lượng lao động thấp, hệ thống đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu; cơ hội là phát triển công nghiệp chế biến, du lịch sinh thái, liên kết vùng; thách thức là LLLĐ nông nghiệp lớn, áp lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập AEC, TPP.
Các giải pháp tạo việc làm trọng tâm được đề xuất gồm: (1) Đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức cho người lao động về tác động NBD và cơ hội việc làm; (2) Hoàn thiện cơ chế chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới đào tạo nghề nông nghiệp nông thôn theo Đề án 1956; (3) Hoàn thiện chính sách hỗ trợ người dân bị mất đất sản xuất do thiên tai và BĐKH (chưa được đề cập trong QĐ 52/2012/QĐ-TTg); (4) Gắn kết chính sách lao động việc làm với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương; (5) Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và mạng lưới đào tạo nghề; (6) Đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề; (7) Tạo việc làm qua cải thiện hệ thống thông tin và kết nối thị trường lao động.
4.4. Chương IV, đề tài nêu kết luận và khuyến nghị:
BĐKH và NBD làm mất đất sản xuất đang gây ảnh hưởng tiêu cực tới lao động việc làm nông thôn ĐBSCL, đặc biệt với nhóm hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số. Nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý luận, mô tả thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp tạo việc làm cho lao động mất đất do NBD. Đề tài khuyến nghị: Triển khai quy hoạch phát triển đào tạo nghề và hỗ trợ tạo việc làm giai đoạn 2016-2030, định hướng tới năm 2050, lồng ghép thích ứng BĐKH vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội vùng; Nghiên cứu thực hiện liên kết vùng trong lĩnh vực lao động việc làm, kết nối cung-cầu lao động giữa ĐBSCL với các khu công nghiệp vùng Đông Nam Bộ; Chính phủ ban hành quy hoạch đồng bộ về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chuyển đổi việc làm cho người dân mất đất do NBD, đặc biệt với nhóm lao động nghèo, ngư dân và lao động yếu thế.
Thành viên đề tài:
Ths. Chử Thị Lân, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; Ths. Ngô Văn Nam, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; CN. Phùng Thị Anh Dương, Viện Khoa học Lao động và Xã hội.
Từ khóa:
Chuyển đổi nghề nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long Biến đổi khí hậu Mất đất sản xuất Lao động việc làm