Giải pháp tăng cường cơ hội việc làm cho lao động trung niên trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Chủ nhiệm:
Ths. Lưu Quang Tuấn
Năm đăng ký:
2018
Năm nghiệm thu:
2018
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tổng quan kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế thời gian gần đây cho thấy xu hướng lao động trung niên đang dần bị mất lợi thế việc làm so với lao động trẻ bởi 3 lý do cơ bản: (1) lao động trung niên không nắm bắt kịp những thay đổi công nghệ mới trong bối cảnh tiến bộ khoa học công nghệ ngày càng nhanh và cạnh tranh ngày càng mạnh; (2) những ngành công nghiệp truyền thống sử dụng lao động trung niên đang dần suy giảm thay vào đó là các ngành công nghệ kỹ thuật cao thích ứng với lao động trẻ tuổi hơn; (3) chi phí lao động của lao động trung niên thường cao hơn so với lao động trẻ chủ yếu do khác biệt về thâm niên công tác nhưng lợi ích của lao động trung niên tạo ra không đạt được như kỳ vọng của doanh nghiệp, ngược lại việc sử dụng lao động trẻ có nhiều lợi thế hơn như thích ứng nhanh với thay đổi về công nghệ, chi phí tiền lương thấp hơn và năng suất lao động (NSLĐ) cao hơn. Tương tự như xu hướng này, nhu cầu sử dụng lao động trung niên của doanh nghiệp ở Việt Nam giảm đi, chủ yếu là do:
- Năng suất lao động của lao động trung niên có xu hướng giảm dần theo độ tuổi tăng lên, làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp;
- Chi phí lao động, đặc biệt là tiền lương và các khoản đóng góp an sinh xã hội (ASXH) cho lao động trung niên của doanh nghiệp cao hơn so với lao động trẻ, vì: (1) thâm niên làm việc lâu hơn, thường nắm giữ những vị trí việc làm tốt hơn nên tiền lương cao hơn; (2) việc tăng lương tối thiểu hàng năm và các quy định chính sách về thang, bảng lương dẫn đến tăng tiền lương của lao động trung niên;
- Lao động trung niên không bắt kịp được sự tiến bộ của công nghệ; khó và chậm áp dụng được kỹ thuật mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh so với lao động trẻ trong bối cảnh doanh nghiệp có xu hướng ứng dụng máy móc, công nghệ cao vào sản xuất kinh doanh để giảm chi phí, tăng NSLĐ;
- Với lao động trung niên, tuổi tăng lên thì sức khỏe suy giảm, ảnh hưởng đến mức độ đáp ứng công việc.
Việc thực hiện nghiên cứu “Giải pháp tăng cường cơ hội việc làm cho lao động trung niên trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo” nhằm cung cấp bằng chứng khoa học để trả lời câu hỏi lao động trung niên ở Việt Nam có bị ảnh hưởng nặng nề bởi việc doanh nghiệp sa thải hay không; thu nhập của lao động trung niên có bị giảm do thay đổi vị trí việc làm hay không; và kiểm chứng lý thuyết về vốn nhân lực trong thị trường lao động (TTLĐ) cho rằng độ tuổi trung niên được tích lũy về vốn nhân lực tốt nhất nên người lao động có thu nhập tốt, việc làm ổn định; đồng thời, đề xuất các nhóm giải pháp đối với Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động để giảm thiểu tác động tiêu cực đến lao động trung niên; tăng cường cơ hội việc làm cho lao động trung niên trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (CNCBCT).
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu chung: Đề xuất các giải pháp tăng cường cơ hội việc làm cho lao động trung niên trong các ngành CNCBCT.
Mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề việc làm cho lao động trung niên trong các ngành CNCBCT;
- Chỉ ra những cơ hội và thách thức về việc làm của lao động trung niên trong các ngành CNCBCT;
- Đề xuất các nhóm giải pháp đối với Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động nhằm tăng cường cơ hội việc làm cho lao động trung niên trong các ngành CNCBCT.
3. Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, báo cáo tổng hợp gồm các nội dung sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm cho lao động trung niên trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo;
Chương 2: Thực trạng việc làm của lao động trung niên trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2011-2018;
Chương 3: Giải pháp tăng cường cơ hội việc làm cho lao động trung niên trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đến năm 2025.
4. Nội dung chính của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm cho lao động trung niên trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Nghiên cứu bắt đầu bằng việc chuẩn hóa các khái niệm nền tảng, trong đó cơ hội việc làm được hiểu là khả năng một cá nhân tham gia vào thị trường lao động để tạo ra thu nhập hợp pháp; còn lao động trung niên được giới hạn cụ thể là người lao động từ 35 đến 54 tuổi đối với nữ, và từ 35 đến 59 tuổi đối với nam, làm việc theo hợp đồng lao động và chịu sự quản lý của người sử dụng lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Khung phân tích của đề tài được xây dựng dựa trên sự tương tác giữa cung và cầu lao động, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố đầu vào, đầu ra, và sự đổi mới phương thức sản xuất từ phía doanh nghiệp, kết hợp với trình độ, kinh nghiệm và sức khỏe từ phía người lao động dưới sự điều tiết chính sách của Nhà nước.
Qua tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế, nhóm tác giả chỉ ra rằng tình trạng bấp bênh, nguy cơ sa thải sớm và bẫy tuổi trung niên là những vấn đề hiện hữu mang tính toàn cầu, đặc biệt là ở những ngành thâm dụng lao động như dệt may và da giày, hoặc khi doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc vì làn sóng công nghệ 4.0. Khi phân tích kinh nghiệm quốc tế từ các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Hồng Kông và Trung Quốc, đề tài rút ra bài học quan trọng cho Việt Nam. Đó là việc không nên "trầm trọng hóa" nhưng cũng không được coi nhẹ vấn đề thất nghiệp của lao động trung niên; đồng thời cần xây dựng các mô hình việc làm thân thiện, cải thiện năng lực thông qua đào tạo lại kỹ năng, thiết lập các dịch vụ việc làm đặc thù, và hỗ trợ thông tin sớm để người lao động không bị rơi vào tình trạng bị động hay thất nghiệp dài hạn khi doanh nghiệp cơ cấu lại dây chuyền sản xuất.
Chương 2: Thực trạng việc làm của lao động trung niên trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2011-2018
Khi đánh giá bức tranh thực trạng, dữ liệu giai đoạn 2011–2018 cho thấy số lượng lao động trung niên làm công hưởng lương trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khá nhanh, đạt hơn 2,8 triệu người vào năm 2018 với tốc độ tăng trưởng bình quân 9,87%/năm. Xu hướng dịch chuyển việc làm thể hiện rõ qua việc cơ hội việc làm chuyển dần sang nhóm lao động nữ, khu vực nông thôn và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), trong khi tỷ trọng lao động tại khu vực nhà nước giảm mạnh. Dù tổng thể cơ hội việc làm vẫn khá ổn định, nhưng TTLĐ đang phát triển thiếu bền vững khi tỷ lệ lao động không có hợp đồng chính thức vẫn còn cao và trình độ chuyên môn kỹ thuật có bằng cấp của nhóm này lại có xu hướng sụt giảm, chỉ chiếm 15,27% vào năm 2018. Về thu nhập, dù thu nhập bình quân tăng trưởng tốt, đạt hơn 6 triệu đồng/tháng vào năm 2018, nhưng khoảng cách giới về thu nhập giữa nam và nữ lại ngày càng mở rộng. Đáng chú ý, kết quả mô hình Mincer chỉ ra một nghịch lý: trong khi thu nhập của lao động trung niên nói chung cao hơn các nhóm tuổi khác 9,7%, thì riêng trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, thu nhập của họ lại thấp hơn 3,69%.
Kết quả lượng hóa bằng các mô hình kinh tế lượng và khảo sát thực địa tại hai ngành điện tử và dệt may đã làm rõ các yếu tố ảnh hưởng và nguy cơ mất việc của lao động trung niên. Mô hình hồi quy xác suất logit khẳng định cơ hội có việc làm hưởng lương của lao động trung niên thấp hơn nhóm lao động trẻ là 19%. Sự khác biệt giữa hai ngành khảo sát rất rõ rệt: ngành dệt may vẫn duy trì được nhiều lao động trung niên nhờ tận dụng kinh nghiệm, tay nghề lâu năm dù năng suất của họ chỉ bằng khoảng 70% so với lao động trẻ; ngược lại, ngành điện tử thể hiện xu hướng ưu tiên tuyển dụng lao động trẻ tuổi (từ 18–20 tuổi) một cách áp đảo do yêu cầu khắt khe về sự nhanh tay, nhanh mắt ở các dây chuyền sản xuất. Lý do cốt lõi dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với nhóm tuổi này chủ yếu xuất phát từ việc thay đổi công nghệ, cơ cấu lại dây chuyền của doanh nghiệp hoặc do người lao động không chịu nổi áp lực từ định mức sản phẩm tính theo sản lượng, dẫn đến xu hướng một bộ phận lao động trung niên mất việc chọn rút bảo hiểm xã hội một lần, gây hệ lụy nghiêm trọng cho lưới an sinh xã hội dài hạn.
Chương 3: Giải pháp tăng cường cơ hội việc làm cho lao động trung niên trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đến năm 2025
Báo cáo dự báo rằng đến năm 2025, số lượng lao động trung niên trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo sẽ tiếp tục tăng, đạt khoảng 4,075 triệu người, với xu hướng tăng mạnh ở nhóm lao động nữ, khu vực FDI và nhóm nghề thợ kỹ thuật lắp ráp, vận hành máy móc. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng thông qua các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và làn sóng công nghệ 4.0, cơ hội cho lao động trung niên nằm ở việc phát huy kinh nghiệm, thâm niên gắn bó; tuy nhiên thách thức lại cực kỳ gay gắt do áp lực cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao và đòi hỏi tính linh hoạt, hiệu quả trong công việc ngày một lớn. Để hóa giải các thách thức này, đề tài đã thiết kế một hệ thống giải pháp đồng bộ cho cả ba bên liên quan bao gồm Nhà nước, doanh nghiệp và bản thân người lao động.
Về phía Nhà nước, giải pháp trọng tâm là xây dựng cơ chế kiến tạo, thiết lập dịch vụ giới thiệu việc làm đặc thù cho lao động trung niên bị mất việc, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp giữ chân hoặc luân chuyển lao động thông qua các ưu đãi về tiền lương và an sinh xã hội. Nguồn lực tài chính để thực hiện các hỗ trợ đào tạo lại và tự tạo việc làm có thể được linh hoạt sử dụng từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp trên cơ sở sửa đổi chính sách phù hợp với tinh thần cải cách. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động phối hợp với tổ chức công đoàn để xây dựng hệ thống quản lý nhân sự "thân thiện", cụ thể hóa thông qua các thỏa ước lao động tập thể rõ ràng về việc bảo đảm vị trí công việc khi điều chuyển, áp dụng định mức lao động và bù lương hợp lý đối với những người làm chậm do sức khỏe suy giảm. Cuối cùng, đối với người lao động trung niên, giải pháp mang tính quyết định là sự chủ động đổi mới tư duy, tích cực nâng cao năng lực thông qua việc cập nhật kiến thức, trang bị các chứng chỉ nghề chuyên nghiệp, và tăng cường tính linh hoạt để sẵn sàng thích ứng với việc chuyển đổi vị trí công tác khi công nghệ trong nhà máy thay đổi.
Thành viên đề tài:
Ths. Phạm Ngọc Toàn, Viện Khoa học Lao động và Xã hội ThS. Nguyễn Thị Hoàng Nguyên, Viện Khoa học Lao động và Xã hội ThS. Nguyễn Thành Tuân, Viện Khoa học Lao động và Xã hội Ths. Lê Thị Lương, Viện Khoa học Lao động và Xã hội CN. Nguyễn Quang Lộc, Cục Việc làm
Từ khóa:
Việc làm Lao động trung niên ngành công nghiệp chế biến Ngành công nghiệp chế tạo Trung niên Lao động