Giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Chủ nhiệm: ThS. Tống Hải Nam

Năm đăng ký: 2014

Năm nghiệm thu: 2015

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết

          Theo Tổ chức lao động Quốc tế (2014), lao động di cư trên thế giới nói chung và ở khu vực Châu Á nói riêng tạo nên một hiện tượng kinh tế - xã hội quan trọng ở cả những nước đưa đi và tiếp nhận lao động. Những lao động di cư này đang đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội của đất nước họ. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn thiếu sự hỗ trợ để tạo điều kiện cho lao động di cư trở về và tái hòa nhập một cách hiệu quả, trong đó có cả lao động nữ di cư. Trên thực tế, nhiều lao động di cư gặp khó khăn và phải đối mặt với các thách thức kinh tế/xã hội khi họ trở về quê hương và nhiều người rơi vào tình trạng bấp bênh trong việc làm và thu nhập, cũng như nhiều người quyết định tái di cư.

          Ở Việt Nam, hàng năm, hoạt động đưa người lao động đi làm việc theo hợp đồng có thời hạn ở nước ngoài đã và đang đem lại nguồn ngoại tệ khá lớn, số ngoại tệ chuyển về nước trên 2 tỷ USD/năm, chiếm khoảng 2% GDP trong giai đoạn 2011-2013 (DOLAB, 2013). Nguồn tiền do những người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài gửi về trong thời gian qua không chỉ góp phần nâng cao mức sống của mỗi gia đình mà còn làm thay đổi bộ mặt nông thôn nơi họ ra đi. Quan trọng hơn nữa, người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài tiếp thu được những kiến thức kỹ thuật tiên tiến, kỹ năng hiện đại, phong cách và phương pháp làm việc chuyên nghiệp và những phẩm chất tốt từ những nước nhập khẩu lao động. Giai đoạn 2008-2013, bình quân mỗi năm cả nước có khoảng 85 ngàn người lao động đi làm việc theo hợp đồng có thời hạn ở nước ngoài về nước và ngày càng tăng, trong đó lao động nữ chiếm khoảng 30% (DOLAB, 2013).

Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động và Xã hội năm 2011 (ILSSA, 2011), đa số người lao động sau khi về nước có việc làm ngay (chiếm 80,6% trong tổng số 1.450 người được khảo sát) song chất lượng việc làm còn thấp với gần 75% số người tiếp tục làm việc ở khu vực nông nghiệp và phi chính thức; 57,3% số người lao động làm các công việc giản đơn; gần 54% số người là tự làm hay lao động hộ gia đình. Tỷ lệ lao động được ký kết hợp đồng lao động hay được tham gia bảo hiểm xã hội cũng còn rất thấp (chiếm khoảng 24% trong tổng số lao động được khảo sát).

          Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã có chủ trương và chính sách về hỗ trợ lao động đi làm việc ở nước ngoài trở về và tái hòa nhập thị trường lao động. Tuy nhiên, việc thực thi các chính sách này còn nhiều hạn chế chưa thực sự mang lại lợi ích cho người lao động. Trong khi các thể chế kết nối việc làm trong nước chưa có sự quan tâm đúng mức đến các đối tượng người lao động này, còn phát triển một cách tự phát và manh mún. Một số Chính phủ nước ngoài như Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản cũng đã có những chương trình hỗ trợ lao động di cư Việt Nam trở về và tái hòa nhập trong nước khá hiệu quả nhưng do nguồn lực hạn chế và nhằm vào các đối tượng đặc thù nên số lượng người được thụ hưởng còn ít so với nhu cầu thực tế.

          Do đó, trong bối cảnh hiện nay, vấn đề tái hòa nhập cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài trở về cần phải được quan tâm xem xét để có các giải pháp thiết thực tăng cường kết nối việc làm để cải thiện tình trạng việc làm cho họ, nhằm phát huy lợi thế của một bộ phận nguồn nhân lực đã tham gia xuất khẩu lao động, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

2. Mục tiêu nghiên cứu

          a. Mục tiêu chung: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước, góp phần phát huy nguồn lực lao động sau xuất khẩu và phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

          b. Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động di cư trở về; rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế.

- Phân tích, đánh giá thực trạng tái hòa nhập thị trường lao động của lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước.

- Khuyến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động trở về.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:

          Chương 1: Cơ sở lý luận về tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước.

          Chương 2: Đánh giá thực trạng tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng trở về nước.

          Chương 3: Khuyến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước.

4. Nội dung chính của đề tài

          4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận về tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Chương này xây dựng nền tảng lý luận cho toàn bộ đề tài thông qua việc hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi và phân tích các yếu tố tác động đến quá trình tái hòa nhập thị trường lao động.

Về khái niệm, đề tài làm rõ thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác. Tái hòa nhập thị trường lao động được hiểu là quá trình người lao động đi làm việc ở nước ngoài trở về nước và hòa nhập lại với môi trường kinh tế - xã hội trong nước sau một thời gian dài vắng mặt ở cộng đồng, hướng tới mục tiêu "trở về bền vững" – duy trì và phát triển đời sống, sinh kế và nhân phẩm của người lao động.

Về đánh giá hiệu quả tái hòa nhập, đề tài xác định hai nhóm tiêu chí: (1) Hiệu quả xã hội: tỷ lệ có việc làm, giảm thất nghiệp, đóng góp vào xóa đói giảm nghèo; (2) Hiệu quả kinh tế: giá trị tạo ra từ sức lao động mới, đóng góp vào GDP. Các chỉ tiêu cụ thể đánh giá hiệu quả tái hòa nhập gồm: số người có việc làm sau khi về nước; loại hình công việc; thời gian có việc làm sau khi về nước; khả năng phát huy kỹ năng, ngoại ngữ, tác phong công nghiệp tích lũy được; mức thu nhập và vị trí việc làm đạt được.

          Về các hình thức tái hòa nhập, đề tài chỉ ra người lao động về nước có thể lựa chọn: (1) Tiếp tục học tập để nâng cao trình độ; (2) Tiếp tục đi làm việc ở nước ngoài lần thứ hai; (3) Tự tạo việc làm – khởi nghiệp, mở cơ sở sản xuất kinh doanh; (4) Tự làm; (5) Làm công ăn lương tại các doanh nghiệp trong nước hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

          Về các nhân tố tác động, đề tài phân tích hai nhóm: (2) Nhân tố tích cực gồm tích lũy tài chính, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp được nâng cao; (2) Nhân tố tiêu cực gồm công việc làm ở nước ngoài giản đơn, lao động quá tuổi tuyển dụng khi về nước, thiếu thông tin việc làm và mất kết nối cộng đồng sau thời gian dài vắng mặt.

          Ngoài ra, đề tài cũng đúc kết kinh nghiệm quốc tế của Philippines, Ấn Độ (bang Kerala), Thái Lan, Indonesia và một số nước châu Âu (Estonia, Litva, Ba Lan, Hàn Quốc, Malaysia). Điểm chung của các nước thành công là triển khai đồng bộ bốn nhóm chính sách: chính sách thông tin (xây dựng cơ sở dữ liệu lao động trở về, cung cấp thông tin cơ hội việc làm); chính sách khuyến khích kinh tế (cho vay ưu đãi, hỗ trợ tín dụng khởi nghiệp); chính sách đào tạo nâng cao năng lực (kỹ năng sản xuất kinh doanh, quản lý tài chính, ngoại ngữ); và chính sách thể chế (cơ quan chuyên trách, cơ chế phối hợp đa ngành). Bài học kinh nghiệm quan trọng nhất cho Việt Nam là gắn kế hoạch xuất khẩu lao động với kế hoạch sử dụng nguồn nhân lực sau khi về nước ngay từ đầu chu trình.

        4.2. Chương 2: Đánh giá thực trạng tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng trở về nước

Đề tài phân tích toàn diện thực trạng nguồn nhân lực xuất khẩu lao động trở về, thực trạng chính sách và thực trạng việc làm của nhóm lao động này.

Về đặc điểm nhân khẩu học của lao động trở về: phần lớn có độ tuổi từ 21–35 tuổi khi về nước, vẫn ở độ tuổi năng động và có sức lao động tốt. Trình độ văn hóa dao động từ tiểu học đến trung học phổ thông tùy theo thị trường. Đa số chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chính quy (81,48% chưa qua đào tạo). Tuy nhiên, sau thời gian làm việc ở nước ngoài, lao động trở về có cải thiện đáng kể về ý thức kỷ luật lao động/tác phong công nghiệp (67,52%) và nhận thức xã hội (69,1%).

          Về thực trạng việc làm sau khi về nước: 80,6% lao động có việc làm ngay khi về nước, nhưng chất lượng việc làm rất thấp. Đại bộ phận làm việc trong khu vực nông nghiệp và phi chính thức (65,78%). 90% lao động làm việc không đúng ngành nghề đã làm ở nước ngoài. Tỷ lệ lao động không phát huy được kỹ năng chuyên môn sau khi về nước rất cao: 79,29% không sử dụng tay nghề; 88% không sử dụng ngoại ngữ; 47,66% không sử dụng tác phong công nghiệp. Khó khăn lớn nhất của người lao động sau khi về nước là tìm việc làm (chiếm 41,72% số lao động khảo sát), trong đó 76,36% thiếu thông tin về việc làm.

          Về thực trạng chính sách: Hệ thống chính sách hỗ trợ tái hòa nhập còn thiếu và yếu. Các quy định hiện có gồm Điều 59, 60 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Quyết định 71/2009/QĐ-TTg. Tuy nhiên, đến thời điểm nghiên cứu chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể việc thực hiện hai điều luật quan trọng này. Đa số địa phương (50/63 tỉnh, thành phố) không nắm được số liệu lao động đi làm việc ở nước ngoài về nước. Tỷ lệ lao động nhận được hỗ trợ thực sự rất thấp: chỉ 1,68% nhận được hỗ trợ từ doanh nghiệp xuất khẩu lao động; 1,37% nhận được hỗ trợ từ địa phương.

          Về các chương trình hiện có: Trung tâm Lao động ngoài nước (COLAB) phối hợp với HRD Hàn Quốc và IM Japan tổ chức hội chợ việc làm, phiên giao dịch việc làm (từ 2012–2014 đã có hơn 2.000 lượt người tham gia, 414 người đạt yêu cầu tuyển dụng). Một số tỉnh như Bắc Ninh triển khai mô hình phiên giao dịch việc làm chuyên đề cho lao động trở về (tỷ lệ trúng tuyển đạt 34%). Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động như SONA, VINACONEX, LOD cũng tham gia tái đào tạo và giới thiệu việc làm, song quy mô còn nhỏ và hiệu quả hạn chế. Các chương trình hỗ trợ từ Hàn Quốc, tổ chức GTZ (Đức) và JITCO (Nhật Bản) đã đạt được một số kết quả tích cực nhưng phạm vi còn hẹp.

          4.3. Chương 3: Khuyến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

          Trên cơ sở phân tích bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và xu hướng thị trường lao động Việt Nam (trong đó FDI đóng vai trò quan trọng, tính đến 2014 đã có 289 khu công nghiệp được thành lập), đề tài đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ theo các nhóm sau:

          Hoàn thiện chính sách: Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể Điều 59, 60 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động trở về (tên, tuổi, giới tính, trình độ, công việc đã làm, nước đến, thời gian về nước, tình trạng việc làm hiện tại); bổ sung nội dung hướng nghiệp cho chương trình bồi dưỡng trước khi đi; ban hành chứng chỉ nghề công nhận kỹ năng tích lũy tại nước ngoài.

          Nhóm chính sách tổ chức và thông tin: Thành lập bộ phận chuyên trách quản lý lao động trở về trong Trung tâm Quốc gia dự báo & thông tin thị trường lao động; xây dựng hệ thống quản lý phân theo quốc gia nhận lao động để dự báo nguồn nhân lực kịp thời; xây dựng cổng thông tin điện tử kết nối cung – cầu lao động giữa người trở về và các doanh nghiệp tuyển dụng.

          Nhóm chính sách tạo việc làm và kết nối thị trường lao động: Tổ chức thường xuyên các phiên giao dịch việc làm chuyên đề (kể cả ở vùng nông thôn); xây dựng mẫu đăng ký việc làm trong nước ngay từ khi lao động xuất cảnh; phối hợp chặt chẽ giữa Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, doanh nghiệp xuất khẩu lao động và các khu công nghiệp; phát huy hiệu quả website hotrolaodongngoainuoc.org.

          Nhóm chính sách tài chính và tín dụng: Cho vay ưu đãi lãi suất thấp để người lao động đầu tư khởi nghiệp; hỗ trợ thuê đất, miễn giảm thuế trong năm đầu lập nghiệp; hỗ trợ đầu tư sản xuất kinh doanh (con giống, cây giống, thiết bị, chuyển giao công nghệ).

          Nhóm chính sách đào tạo: Tổ chức các khóa bồi dưỡng khởi sự doanh nghiệp; đào tạo lại kỹ năng phù hợp với thị trường trong nước; cấp bằng/chứng chỉ chính thức cho lao động có kỹ năng sau khi về nước; sử dụng lao động trở về có kinh nghiệm và ngoại ngữ làm giảng viên cho lớp chuẩn bị xuất khẩu lao động.

          Nhóm chính sách tái hòa nhập cộng đồng: Cộng dồn thời gian làm việc ở nước ngoài vào sổ bảo hiểm xã hội; hỗ trợ tâm lý xã hội cho lao động nữ phục hồi sau thời gian xa gia đình; ưu tiên tiếp cận nhà ở xã hội; tạo môi trường xã hội cởi mở đón nhận lao động trở về.

          Đề tài cũng khuyến nghị xác định xuất khẩu lao động là một chu trình khép kín từ tìm kiếm thị trường – đào tạo – tuyển chọn – đưa đi – quản lý lao động ở nước ngoài – hỗ trợ tái hòa nhập khi về nước, trong đó quy định rõ quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước, bộ ngành, UBND các cấp, doanh nghiệp xuất khẩu lao động và người lao động.

 

Thành viên đề tài:

Các thành viên thuộc Cục Quản lý Lao động Ngoài nước, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Từ khóa: Tái hòa nhập thị trường lao động Lao động làm việc ở nước ngoài Xuất khẩu lao động Lao động di cư trở về Việc làm sau xuất khẩu lao động Giải pháp tái hòa nhập Việt Nam

Tên file View
CB2014-01-07.doc Đăng nhập để xem
Giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Tống Hải Nam

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Văn Thanh

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2012

Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hằng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường ĐHSPKTNĐ

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Phan Sỹ Nghĩa

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: ThS. Lưu Quang Tuấn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.s Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Giải pháp sử dụng hiệu quả lao động người cao tuổi

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Doãn Thị Mai Hương

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đánh giá 5 năm thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Hoàng Kim Ngọc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |