Giải pháp chính thức hóa việc làm khu vực phi chính thức

Chủ nhiệm: Ths. Lê Ngự Bình

Năm đăng ký: 2017

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

  1. Tính cấp thiết

    Ở các nước đang phát triển, việc làm trong khu vực phi chính thức (PCT) tồn tại rất phổ biến, bao gồm những việc làm dưới hình thức tự tạo việc làm, lao động gia đình không hưởng lương ở khu vực phi nông nghiệp (không kể nông dân) và lao động làm thuê cho các cơ sở sản xuất kinh doanh (SXKD) không có đăng ký kinh doanh. Ở Việt Nam, tính đến quý 2/2016, cả nước có 14,92 triệu việc làm trong khu vực PCT, chiếm gần 30% tổng số việc làm của nền kinh tế (53,24 triệu việc làm), bao gồm 7,68 triệu lao động tự làm, 2,13 triệu lao động hộ gia đình không hưởng lương ở khu vực phi nông nghiệp và gần 3,8 triệu lao động làm công hưởng lương. Trong giai đoạn 2011-2015, cả nước đã tăng thêm 3,5 triệu việc làm trong khu vực PCT. Đặc điểm nổi bật của việc làm trong khu vực PCT đó là việc làm bấp bênh, thu nhập thấp và không thường xuyên, thời gian làm việc kéo dài, điều kiện làm việc không đảm bảo. Người lao động làm các công việc này thường không có hợp đồng lao động, không có bảo hiểm xã hội, không được tham gia công đoàn, không có liên hệ nhiều với các khu vực khác của nền kinh tế và do đó nằm ngoài sự bảo vệ của pháp luật lao động và bảo trợ xã hội. Đây là khu vực thường bị bỏ quên trong các chính sách công, người lao động trong khu vực này không được tiếp cận với tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề. Hơn nữa, trong thời gian dài vừa qua, các hoạt động SXKD ở khu vực này thường được xem là không đúng quy định của pháp luật (do không đăng ký kinh doanh, không xin phép,... ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị hay ảnh hưởng đến môi trường, .... ). Do đó, các hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực này thường mang tính chất mệnh lệnh hành chính nhằm hạn chế hay dẹp bỏ các hoạt động SXKD ở khu vực này làm cho việc làm ở khu vực này vốn đã thiếu tính bền vững lại càng trở nên dễ bị tổn thương hơn hết.

    Trên bình diện quốc tế, nhận thấy các nguy cơ tiềm ẩn của việc làm thiếu bền vững, không đảm bảo ASXH và an ninh thu nhập trong khu vực kinh tế PCT của các nước thành viên, Hội nghị Lao động quốc tế (ILC) 104 đã bỏ phiếu thông qua Khuyến nghị 204 ngày 12/6/2015 về đề xuất các nguyên tắc, định hướng và kêu gọi các quốc gia thành viên tăng cường khuôn khổ pháp luật, cải thiện chính sách việc làm nhằm hỗ trợ chuyển đổi từ nền kinh tế PCT sang chính thức. Khuyến nghị được coi là một trong những công cụ hỗ trợ quan trọng cho việc chuyển đổi hàng triệu người lao động trên toàn cầu sang nền kinh tế chính thức. Đặc biệt, tại Hội nghị Bộ trưởng Lao động các nước ASEAN lần thứ 24 ngày 14-16/5/2016, các nước thành viên ASEAN đã thông qua “Tuyên bố ASEAN về dịch chuyển việc làm PCT sang việc làm chính thức hướng tới thúc đẩy việc làm bền vững ASEAN”. Điều này cũng đòi hỏi các nước thành viên, trong đó có Việt Nam, khẩn trương hành động và thực thi các điều khoản đã cam kết về hỗ trợ chuyển đổi từ nền kinh tế chính thức sang PCT.

    Việt Nam đang trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế (để chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu) và tăng cường hội nhập. Những lao động không đáp ứng yêu cầu về trình độ, kỹ năng có nguy cơ bị mất việc làm từ các doanh nghiệp ở khu vực chính thức. Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa và hội nhập làm gia tăng các luồng di dư nội địa của lao động nông nghiệp, lao động chưa qua đào tạo ra các khu đô thị, các thành phố lớn. Khu vực PCT tiếp tục đóng vai trò quan trọng, là “giá đỡ” cho phần lớn các lao động phổ thông này. Tuy nhiên, nếu không có những giải pháp và các chính sách hỗ trợ kịp thời, việc làm trong khu vực PCT sẽ gia tăng nhanh hơn nữa trong nền kinh tế, gây nên những vấn đề nghiêm trọng về kinh tế và xã hội.

    Trong thời gian tới, khu vực PCT và việc làm PCT sẽ vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Theo đó, chuyển đổi việc làm PCT sang việc làm chính thức, dù là cần thiết, nhưng cần có một chiến lược hỗ trợ lâu dài nhằm cải thiện chất lượng việc làm và đảm bảo ASXH cho người lao động trong khu vực PCT, tiếp thêm lực đẩy tự nhiên cho quá trình chuyển đổi chứ không nên là những thúc ép hành chính như hiện nay. Do đó, việc thực hiện nghiên cứu về “Giải pháp chính thức hóa việc làm trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam” là hết sức cần thiết, nhằm cung cấp các luận cứ khoa học cho công tác quản lý và hoạch định chính sách thị trường lao động và chính sách kinh tế hướng tới thúc đẩy việc làm bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách kinh tế và tăng cường hội nhập.

    2. Mục tiêu nghiên cứu

    a. Mục tiêu chung: Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình chính thức hóa việc làm phi chính thức, trong đó tập trung vào cải thiện chất lượng việc làm khu vực PCT, hướng tới thúc đẩy việc làm bền vững ở Việt Nam.

    b. Mục tiêu cụ thể:

    - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính thức hóa việc làm khu vực PCT; Rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế về chính thức hóa việc làm khu vực PCT

    - Đánh giá thực trạng chính thức hóa việc làm khu vực PCT ở Việt Nam;

    - Khuyến nghị giải pháp đẩy mạnh quá trình chính thức hóa việc làm nói chung và cải thiện chất lượng việc làm khu vực PCT nói riêng.

    3. Kết cấu của đề tài Gồm 3 chương:

    Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về chính thức hóa việc làm khu vực phi chính thức.

    Chương 2: Thực trạng chính thức hoá việc làm khu vực phi chính thức của Việt Nam.

    Chương 3: Đề xuất các giải pháp chính thức hoá việc làm khu vực phi chính thức ở Việt Nam.

    4. Nội dung chính của đề tài

    4.1. Chương 1, đề tài đi vào luận giải cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về chính thức hóa việc làm khu vực phi chính thức:

    Làm rõ một số vấn đề lý luận chung: Hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi về lao động, việc làm; phân định khái niệm "khu vực phi chính thức" (khu vực kinh tế phi chính thức) và "việc làm phi chính thức" dựa trên các tiêu chí của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và thực tiễn thống kê của Việt Nam; chỉ ra các đặc điểm đặc thù của việc làm khu vực này (tính chất bấp bênh, thu nhập thấp, điều kiện làm việc không bảo đảm và lỗ hổng lớn về an sinh xã hội).

    Phân tích khái niệm và bản chất của "chính thức hóa việc làm": Định nghĩa rõ nội hàm của quá trình chính thức hóa việc làm, xác định các tiêu chí phản ánh mức độ chính thức hóa (đăng ký kinh doanh đối với cơ sở sản xuất kinh doanh, ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản, tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm y tế).

    Chỉ ra các nhóm yếu tố tác động đến quá trình chính thức hóa việc làm, bao gồm: Thể chế pháp lý (Luật Lao động, Luật BHXH, Luật Quản lý thuế); năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về thị trường lao động; nhận thức và điều kiện kinh tế của người lao động cũng như chủ sử dụng lao động.

    Đồng thời, trong chương này, đề tài cũng tổng hợp và phân tích kinh nghiệm quốc tế của một số quốc gia (các mô hình chính sách, chương trình hỗ trợ chuyển đổi từ phi chính thức sang chính thức), từ đó đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cốt lõi cho Việt Nam.

    4.2. Chương 2, đề tài đánh giá thực trạng chính thức hoá việc làm khu vực phi chính thức của Việt Nam:

    Rà soát, đánh giá hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước Việt Nam tác động đến lao động, việc làm khu vực phi chính thức và việc chuyển đổi hình thức việc làm.

    Phân tích thực trạng quy mô, cơ cấu và đặc điểm của lao động khu vực phi chính thức ở Việt Nam theo các chiều: Giới tính, độ tuổi, ngành nghề kinh doanh, trình độ chuyên môn kỹ thuật, sự phân bố giữa các vùng miền và giữa đô thị - nông thôn.

    Khảo sát và đánh giá sâu mức độ chính thức hóa việc làm trên thực tế: Tỷ lệ lao động có hợp đồng lao động, thực trạng tham gia mạng lưới an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế) của lao động khu vực phi chính thức. Qua đó, đề tài chỉ ra những hạn chế và nút thắt lớn:

    Thứ nhất, quy mô lao động phi chính thức ở Việt Nam còn chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng lực lượng lao động, làm giảm năng suất lao động chung của toàn nền kinh tế.

    Thứ hai, các chính sách hỗ trợ khuyến khích đăng ký kinh doanh, chuyển đổi từ hộ kinh doanh cá thể lên doanh nghiệp chưa đủ mạnh, thủ tục hành chính còn gây rào cản.

    Thứ ba, diện bao phủ của hệ thống an sinh xã hội (đặc biệt là bảo hiểm xã hội tự nguyện) đối với lao động phi chính thức còn rất thấp do thiết kế chính sách chưa thực sự linh hoạt, hấp dẫn.

    Thứ tư, công tác quản lý, thống kê và phối hợp liên ngành (giữa cơ quan quản lý lao động, cơ quan thuế, cơ quan bảo hiểm...) về lao động phi chính thức còn lỏng lẻo, phân tán.

    4.3. Chương 3, trên cơ sở phân tích bối cảnh phát triển và những thách thức của thị trường lao động Việt Nam trong giai đoạn tới:

    Căn cứ vào quan điểm chỉ đạo của Đảng, định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước về cải cách thể chế lao động và mở rộng mạng lưới an sinh xã hội toàn dân; đề tài đề xuất các nhóm giải pháp mang tính toàn diện để chính thức hóa việc làm khu vực phi chính thức ở Việt Nam.

    Các giải pháp trọng tâm bao gồm: Hoàn thiện hành lang pháp lý về lao động và an sinh xã hội (thiết kế các gói BHXH tự nguyện linh hoạt hơn); đẩy mạnh cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, khuyến khích các cơ sở phi chính thức gia nhập khu vực chính thức; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng cho lao động phi chính thức; tăng cường năng lực thanh tra, giám sát thị trường lao động và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

     

Thành viên đề tài:

Ths. Trịnh Thu Nga, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH; Ths. Lê Thu Huyền, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH Ths. Trần Thị Ngọc Anh, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH TS. Đoàn Thị Quỳnh Anh, Trường ĐH Lao động - Xã hội, Bộ LĐ-TB&XH CN. Ngô Xuân Liễu, Cục Việc làm, Bộ LĐ-TB&XH Ths. Trần Mạnh Hà, Kiểm toán nhà nước

Từ khóa: Việc làm Phi chính thức Việt Nam Khu vực phi chính thức

Tên file View
CT2017-02-02 Đăng nhập để xem
Giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Tống Hải Nam

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Văn Thanh

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2012

Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hằng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường ĐHSPKTNĐ

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Phan Sỹ Nghĩa

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: ThS. Lưu Quang Tuấn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.s Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Giải pháp sử dụng hiệu quả lao động người cao tuổi

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Doãn Thị Mai Hương

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đánh giá 5 năm thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Hoàng Kim Ngọc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |