Đổi mới kế hoạch hoá giáo dục nghề nghiệp theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, gắn với nhu cầu của thị trường lao động

Chủ nhiệm: Ths. Trịnh Thu Nga

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

Trong hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta có sự điều chỉnh ấn tượng từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường. Theo đó, công tác kế hoạch hóa (KHH) giáo dục nghề nghiệp (GDNN) cũng chuyển từ KHH tập trung sang KHH phát triển. Trong những năm qua, công tác KHH GDNN đã được quan tâm, thông qua việc ban hành và thực thi các chiến lược, kế hoạch liên quan, tiếp cận chuyển từ hướng cung sang hướng cầu. Tuy nhiên, việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực (NNL) hay các quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN chưa dựa trên nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước nói chung và của từng địa phương nói riêng. Một nguyên nhân cơ bản là công tác đánh giá và dự báo nhu cầu NNL còn yếu và đến nay chưa có cơ quan nào chịu trách nhiệm chính về vấn đề này, do đó việc xác định phương hướng, mục tiêu phát triển NNL của hệ thống giáo dục – đào tạo còn hạn chế. Bên cạnh đó, các chủ thể trong quá trình KHH còn thiếu sự liên kết (giữa nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, v.v...); công tác quản lý GDNN chưa thống nhất (hệ cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, hệ cao đẳng nghề, trung cấp nghề, sơ cấp nghề và đào tạo kỹ năng nghề do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý) và chưa tuân theo quy luật của thị trường; công tác giáo dục định hướng còn bị bỏ ngỏ. Điều này đã dẫn đến sự bất cập trong cơ cấu NNL cả về số lượng và chất lượng theo ngành/nghề trình độ và kỹ năng trong suốt giai đoạn vừa qua.

          Kết quả tất yếu là NNL Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Năm 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo GDNN có bằng cấp/chứng chỉ (bao gồm các trình độ sơ cấp nghề, trung cấp và cao đẳng) còn rất thấp, mới chỉ chiếm 11,67% tổng lực lượng lao động (LLLĐ), trong khi vẫn còn khoảng 31,35% LLLĐ qua đào tạo nghề không chính quy và 48,36% LLLĐ không có chuyên môn kỹ thuật. Trong khi đó, những lao động này lại là LLLĐ chủ yếu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước. Điều này cảnh báo về sự thiếu hụt lao động qua đào tạo GDNN, đặc biệt là công nhân kỹ thuật trình độ cao. Bên cạnh đó, xét trong cả giai đoạn 2011 – 2015, LLLĐ qua đào tạo GDNN có bằng cấp/chứng chỉ tăng bình quân 6,55%/năm, tăng chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng LLLĐ qua giáo dục đại học/trên đại học (10%/năm). Đây là kết quả của sự đầu tư mất cân đối trong phát triển GDNN và phát triển giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Quan trọng hơn nữa, xét ở góc độ việc làm, tình trạng lao động qua đào tạo GDNN có bằng cấp/chứng chỉ làm trái ngành nghề, trình độ hay thất nghiệp còn khá phổ biến. Trong năm 2015, trong số 6,3 triệu người qua đào tạo DGNN có bằng cấp/chứng chỉ có: 1,12 triệu người làm công việc yêu cầu về trình độ thấp hơn so với trình độ được đào tạo, 730 nghìn người làm công việc giản đơn và 246 nghìn người bị thất nghiệp. Điều này phản ánh sự mất cân đối giữa cung và cầu về nhân lực qua GDNN trên thị trường lao động, đó chính là sự thiếu đồng bộ giữa trình độ chuyên môn, kỹ năng cần thiết và yêu cầu của TTLĐ. Nhìn chung, kỹ năng nghề và năng lực nghề nghiệp của lao động Việt Nam vẫn còn khoảng cách lớn so với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới.

          Sự ra đời của Luật GDNN 2014 là một bước đột phá trong thể chế hóa mạnh mẽ chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đặt ra yêu cầu đổi mới công tác KHH GDNN nhằm tạo tiền đề cho GDNN phát triển mạnh, đáp ứng nhu cầu nhân lực của TTLĐ trong nước và quốc tế. Do đó, việc thực hiện nghiên cứu “Đổi mới công tác kế hoạch hoá giáo dục nghề nghiệp theo Luật Giáo dục Nghề nghiệp, gắn với nhu cầu của thị trường lao động” là rất cần thiết.

          2. Mục tiêu nghiên cứu

          Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về KHH giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu thị trường lao động Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp đổi mới công tác kế hoạch hoá giáo dục nghề nghiệp theo Luật Giáo dục Nghề nghiệp, gắn với nhu cầu của thị trường lao động.

          3. Kết cấu của đề tài

          Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương:

Chương I: Một số lý luận cơ bản về đổi mới kế hoạch hóa giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

Chương II: Thực trạng đổi mới kế hoạch hóa giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

Chương III: Khuyến nghị về đổi mới kế hoạch hóa giáo dục nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu thị trường lao động.

          4. Nội dung chính của đề tài

          4.1. Chương 1: Một số lý luận cơ bản về đổi mới kế hoạch hóa giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường

          Đề tài hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi như kế hoạch, kế hoạch hóa và xác định KHH GDNN là quá trình nhận thức nhu cầu khách quan của phát triển KT-XH để xây dựng hệ thống mục tiêu, biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp cho nền kinh tế.

          Đề tài làm rõ bản chất của KHH GDNN trong nền kinh tế thị trường là KHH định hướng, mang tính thuyết phục gián tiếp, đề cao tính linh hoạt và chủ động trong bố trí nguồn lực. Các chức năng cơ bản bao gồm định hướng phát triển và quản lý điều hành vĩ mô để đảm bảo cân đối cung – cầu nhân lực chuyên môn kỹ thuật (CMKT). Công tác KHH phải tuân thủ 04 nguyên tắc chính: mang tư duy chiến lược, gắn với nguồn lực, quản lý theo kết quả và có sự tham gia của các bên liên quan.

          Về phương pháp tiếp cận, đề tài phân tích hai mô hình phổ biến trên thế giới: KHH dựa vào cầu lao động (dự báo quy mô nhân lực dài hạn) và KHH dựa vào tín hiệu thị trường lao động (phản ứng nhanh với thay đổi ngắn hạn về tiền lương, việc làm trống). Qua kinh nghiệm của các nước như Đức, Ý, Malaysia, đề tài rút ra bài học cho Việt Nam về việc cần áp dụng mô hình KHH chiến lược – sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dự báo tổng cầu nhân lực và các tín hiệu thị trường.

          4.2. Chương 2: Thực trạng đổi mới kế hoạch hóa giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam hiện nay

          Giai đoạn 2011 đến nay đánh giá sự thay đổi căn bản về tư duy với Nghị quyết số 29-NQ/TW và đặc biệt là Luật GDNN 2014, thống nhất quản lý nhà nước về một đầu mối. Tuy nhiên, thực trạng công tác KHH vẫn còn nhiều tồn tại:

Công tác dự báo và lập kế hoạch: Đây là khâu yếu nhất; việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh chủ yếu dựa vào tổng hợp nhu cầu của cơ sở (hướng cung) thay vì dựa trên dự báo khoa học về nhu cầu của TTLĐ. Các nhà lập kế hoạch còn thiếu kỹ năng phân tích kinh tế lượng và thiếu hệ thống dữ liệu thô tin cậy.

Thực thi kế hoạch: Mặc dù NSNN đầu tư cho GDNN giai đoạn 2011-2015 đạt 147.756 tỷ đồng, nhưng việc phân bổ vẫn mang tính dàn trải, cào bằng theo đầu học sinh, chưa gắn với chất lượng đầu ra. Hệ thống thông tin TTLĐ chưa đồng bộ, bị chia cắt và thiếu các biến số quan trọng về ngành nghề đào tạo.

Kết quả đào tạo và sử dụng nhân lực: Năm 2015, mới có 20,3% LLLĐ có bằng cấp/chứng chỉ. Khoảng 17,78% người có trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp làm công việc yêu cầu trình độ thấp hơn; 11,58% làm công việc giản đơn và 3,91% thất nghiệp. Kỹ năng của người lao động trong các ngành mũi nhọn như điện tử, dệt may chỉ đạt mức trung bình, thiếu hụt các kỹ năng cốt lõi và tác phong công nghiệp.

4.3. Chương 3: Khuyến nghị về đổi mới kế hoạch hóa giáo dục nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu thị trường lao động

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng (AEC, FTA, cách mạng 4.0), đề tài đề xuất đổi mới toàn diện công tác KHH GDNN:

Đổi mới mục tiêu: Chuyển từ KHH như một công cụ đạt mục tiêu định sẵn sang phương thức "đón đầu" sự thay đổi chất lượng nhân lực; tạo cân đối linh hoạt giữa số lượng và chất lượng.

Đổi mới phương pháp tiếp cận: Áp dụng mô hình KHH chiến lược, tập trung vào các dự báo trung và ngắn hạn dựa trên tín hiệu TTLĐ (tiền lương, tỷ lệ thất nghiệp theo ngành).

Đổi mới nội dung KHH: Nghiên cứu kế hoạch theo hướng "kế hoạch mục tiêu - kế hoạch điều kiện"; chuyển từ giao chỉ tiêu cào bằng sang cơ chế đặt hàng và khuyến khích dựa trên chất lượng đào tạo.

Giải pháp về tổ chức và nguồn lực:

Thành lập Hội đồng kế hoạch phát triển GDNN quốc gia với sự tham gia của các chủ sử dụng lao động.

Kiện toàn hệ thống thông tin TTLĐ, bổ sung các điều tra lần vết sinh viên và khảo sát nhu cầu kỹ năng của doanh nghiệp.

Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ KHH về toán kinh tế và kinh tế lượng; đầu tư các phần mềm dự báo hiện đại.

Đẩy mạnh XHH và giao quyền tự chủ hoàn toàn cho các cơ sở GDNN trong việc xác định chỉ tiêu và chương trình đào tạo

Thành viên đề tài:

Ths. Trần Ngọc Mai, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH; Ths. Nguyễn Thị Hạnh, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH; Ths. Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH; ThS. Trần Thị Ngọc Anh, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH; CN. Nguyễn Ngọc Bình, Viện KHLĐXH, Bộ LĐ-TB&XH; Ths. Đặng Thị Huyền, Viện NCKH Dạy nghề, Bộ LĐ-TB&XH; Ths. Phùng Lê Khanh, Viện NCKH Dạy nghề, Bộ LĐ-TB&XH; CN. Nguyễn Thị Hoài Thu, Trung tâm Lao động Ngoài nước, Bộ LĐ-TB&XH.

Từ khóa: Giáo dục nghề nghiệp Kế hoạch hóa Thị trường lao động Luật Giáo dục nghề nghiệp Đổi mới kế hoạch hóa

Tên file View
CT2016-01-02.pdf Đăng nhập để xem
Giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Tống Hải Nam

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Văn Thanh

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2012

Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hằng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường ĐHSPKTNĐ

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Phan Sỹ Nghĩa

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: ThS. Lưu Quang Tuấn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.s Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Giải pháp sử dụng hiệu quả lao động người cao tuổi

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Doãn Thị Mai Hương

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đánh giá 5 năm thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Hoàng Kim Ngọc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |