Đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường ĐHSPKTNĐ

Năm đăng ký: 2018

Năm nghiệm thu: 2018

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đóng vai trò then chốt trong việc đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp phục vụ sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Dù hệ thống GDNN đã có những bước phát triển đáng ghi nhận về cả quy mô lẫn chất lượng, thực tiễn vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn và sức ỳ lớn, chưa đáp ứng kịp sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động trong bối cảnh hội nhập. Quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này vẫn mang nặng tư duy bao cấp, kế hoạch hóa, thiếu tính kiến tạo. Đặc biệt, đội ngũ nhà giáo đang rơi vào tình trạng thiếu hụt về số lượng và bộc lộ nhiều hạn chế về kỹ năng nghề cũng như nghiệp vụ sư phạm (NVSP). Các trường đại học sư phạm kỹ thuật (ĐHSPKT) hiện nay mới chỉ đáp ứng đào tạo cho một số ngành, nghề nhất định, trong khi năng lực bồi dưỡng sư phạm kỹ thuật và nâng cao tay nghề của các khoa sư phạm nghề tại các trường cao đẳng còn rất yếu.

Trước đòi hỏi của Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 và Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 - 2020, việc phát triển, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo được xác định là giải pháp then chốt và đột phá. Mặc dù các trường ĐHSPKT đã nỗ lực vận hành song song hai mô hình đào tạo (song song và nối tiếp), sinh viên tốt nghiệp ra trường vẫn bộc lộ hạn chế lớn về năng lực công nghệ, kỹ năng thực hành nghề và chưa đáp ứng được yêu cầu của giảng dạy tích hợp. Trong xu thế giáo dục thế giới đang chuyển mạnh từ định hướng nội dung sang định hướng năng lực, kết hợp với tinh thần Nghị quyết 29 và Luật Giáo dục nghề nghiệp về phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực người học, việc nghiên cứu đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo GDNN là một đòi hỏi khách quan và vô cùng cấp thiết.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung:

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng hoạt động đào tạo nhà giáo GDNN để từ đó đề xuất giải pháp đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo GDNN, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của hệ thống GDNN.

Mục tiêu cụ thể:

1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo GDNN theo định hướng thị trường lao động và hội nhập quốc tế; nghiên cứu kinh nghiệm về đào tạo nhà giáo GDNN một số nước và kinh nghiệm đào tạo nhà giáo GDNN Việt Nam.

2) Đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo nhà giáo GDNN ở Việt Nam;

3) Đề xuất các giải pháp đổi mới đào tạo nhà giáo GDNN ở Việt Nam; lộ trình và điều kiện thực hiện các giải pháp.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Báo cáo tổng hợp của Đề tài gồm 3 chương:

Chương1. Cơ sở lý luận về đổi mới đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp

Chương 2. Thực trạng hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Chương 3. Các giải pháp đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp.

4. Nội dung chính của đề tài

Chương 1. Cơ sở lý luận về đổi mới đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp

Nội dung chương này tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng như giáo dục nghề nghiệp, nhà giáo GDNN, mô hình đào tạo, năng lực và khung năng lực (KNL). Hệ thống lý luận chỉ rõ nhà giáo GDNN gồm ba loại: dạy lý thuyết, dạy thực hành và dạy tích hợp; trong đó nhà giáo dạy trình độ cao đẳng bắt buộc phải đạt các tiêu chuẩn khắt khe về bằng cấp chuyên môn và trình độ kỹ năng nghề quốc gia. Các mô hình nhân cách và mô hình hoạt động của nhà giáo được phân tích sâu sắc làm căn cứ cốt lõi để xác định kiến thức, kỹ năng và năng lực tự chủ cần hình thành cho sinh viên. Trên cơ sở đó, chương 1 nghiên cứu cấu trúc hoạt động đào tạo thông qua 10 thành tố cơ bản, từ chuẩn đầu ra, mục tiêu, tuyển sinh, nội dung chương trình, người dạy, người học, phương thức đào tạo, cơ sở vật chất, cho đến đánh giá kết quả và quản lý hoạt động đào tạo.

Nhằm tạo công cụ đo lường khách quan, đề tài đã đề xuất bộ tiêu chí đánh giá hoạt động đào tạo nhà giáo GDNN gồm 10 tiêu chuẩn bám sát các thành tố trên với tổng cộng 42 tiêu chí, áp dụng theo thang đo 7 mức độ. Đồng thời, chương này cũng phân tích rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo, chia thành nhóm yếu tố xã hội (đường lối, chính sách, văn bản pháp quy) và nhóm yếu tố nhà trường (chương trình, phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khoa học của cơ sở đào tạo và yêu cầu tuyển dụng của cơ sở sử dụng nhà giáo). Khép lại chương 1 là phần tổng hợp kinh nghiệm đào tạo giáo viên kỹ thuật - dạy nghề từ các quốc gia như Indonesia, Malaysia, Philippines, CHLB Đức, Australia, Hàn Quốc; qua đó rút ra bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam về việc đa dạng hóa mô hình tuyển sinh, xác định chuẩn năng lực làm gốc để thiết kế chương trình và tăng cường gắn kết thực hành tại doanh nghiệp.

Chương 2. Thực trạng hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Chương này đi sâu khảo sát, phân tích số liệu thực tế giai đoạn 2012 - 2017 tại 3 trường ĐHSPKT gồm Nam Định, Vinh và Vĩnh Long. Về bối cảnh chung, hệ thống GDNN Việt Nam được cấu trúc với 3 trình độ (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng) và hiện có 6 trường ĐHSPKT cùng 1 Viện chuyên ngành tham gia đào tạo đội ngũ nhà giáo. Đánh giá về khung pháp luật hiện hành, đề tài chỉ ra các quy định về mục tiêu, tuyển sinh, phương thức đào tạo, quản lý và sử dụng sinh viên sau tốt nghiệp đã tạo ra hành lang pháp lý cơ bản nhưng vẫn còn bộc lộ một số điểm bất cập, đặc biệt là quy định về khung năng lực và chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ thay đổi qua các thời kỳ (từ Thông tư 30/2010/TT-BLĐTBXH sang Thông tư 08/2017/TT-BLĐTBXH) gây khó khăn cho các trường trong việc tiệm cận tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia.

Khi đánh giá sâu thực trạng tại các trường ĐHSPKT, báo cáo chỉ ra nhiều hạn chế lớn. Mặc dù quy mô đào tạo được duy trì, động cơ chọn ngành của sinh viên vẫn còn bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố bên ngoài. Chương trình đào tạo giữa các trường có sự chênh lệch đáng kể về khối lượng kiến thức và tỷ trọng giữa lý thuyết - thực hành, chưa thực sự thiết kế theo tiếp cận năng lực. Đội ngũ giảng viên tại các trường ĐHSPKT dù đạt chuẩn về học vị nhưng trình độ kỹ năng nghề thực tế (theo các bậc thợ hoặc chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia) vẫn chưa đồng đều. Phương thức đào tạo nghiệp vụ sư phạm còn nhận nhiều ý kiến đánh giá trái chiều và chưa đạt hiệu quả tối ưu. Cơ sở vật chất và trang thiết bị tại các xưởng thực hành tuy được đầu tư nhưng chưa bắt kịp sự thay đổi công nghệ của doanh nghiệp. Công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập vẫn nặng về lý thuyết, chưa chú trọng đúng mức đến khả năng vận dụng tri thức giải quyết tình huống nghề nghiệp thực tế. Hệ thống quản lý đào tạo theo tín chỉ tại 90% số trường được khảo sát cho thấy cần phải cải tiến mạnh mẽ. Điểm sáng duy nhất là tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp ở mức tương đối tốt, tuy nhiên năng lực thực hành tích hợp và sự thích ứng sư phạm của các em khi về công tác tại các cơ sở GDNN vẫn cần nhiều thời gian để hoàn thiện.

Chương 3. Các giải pháp đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp

Trên cơ sở lý luận và thực trạng đã chứng minh, chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và đồng bộ nhằm đổi mới toàn diện hoạt động đào tạo nhà giáo GDNN. Báo cáo phân tích rõ bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu cấp bách về cả quy mô lẫn chất lượng đội ngũ nhà giáo để làm chỗ dựa cho các giải pháp. Đề tài đã đưa ra 4 giải pháp lõi bao gồm:

Thứ nhất, tiến hành xây dựng lại Khung năng lực nhà giáo GDNN dạy trình độ cao đẳng dựa trên việc phân tích chi tiết các nhiệm vụ và công việc thực tế của nhà giáo.

Thứ hai, cải tiến và xây dựng lại chương trình đào tạo nhà giáo GDNN bám sát theo các bước tiếp cận năng lực.

Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ phương thức đào tạo nhà giáo theo hướng tăng cường mô hình kết hợp, chú trọng thời gian thực tập trực tiếp tại doanh nghiệp và cơ sở GDNN.

Thứ tư, cải tiến và nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động đào tạo của nhà trường cho phù hợp với phương thức đào tạo dựa trên năng lực.

Để chứng minh tính khả thi, đề tài đã tiến hành vận dụng cụ thể Khung năng lực vừa xây dựng vào việc thiết kế thử nghiệm chương trình đào tạo ngành Sư phạm công nghệ kỹ thuật Điện, Điện tử trình độ đại học. Báo cáo đã cụ thể hóa từ danh mục năng lực, xây dựng chuẩn đầu ra cấp độ 3 theo năng lực, cho đến việc thiết lập cấu trúc và khối lượng kiến thức chi tiết cho toàn bộ chương trình đào tạo. Qua khảo sát lấy ý kiến chuyên gia và giảng viên, các giải pháp đề xuất đều nhận được sự đồng thuận cao về cả sự cần thiết lẫn tính khả thi thực hiện. Cuối cùng, đề tài đã vạch rõ các điều kiện cần thiết về nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất cùng lộ trình thực hiện cụ thể chia theo từng giai đoạn, làm cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý và các trường ĐHSPKT triển khai áp dụng vào thực tiễn.

 

Thành viên đề tài:

ThS. Đoàn Tuấn Nam, Trường ĐHSPKTNĐ - Thư ký; TS. Trần Văn Khiêm, Trường ĐHSPKTNĐ - Thành viên chính; TS. Trần Xuân Thảnh, Trường ĐHSPKTNĐ - Thành viên chính;TS Phan Thị Tâm, Trường ĐHSPKTVinh - Thành viên chính;TS. Nguyễn Trường Giang, Trường ĐHSPKTNĐ - Thành viên chính; ThS. Nguyễn Hữu Hợp, Trường ĐHSPKT Hưng Yên -Thành viên; TS. Lê Hồng Kỳ, Trường ĐHSPKT Vĩnh Long -Thành viên; ThS. Phạm Duy, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp - Thành viên; TS. Hoàng Thị Phương - Trường ĐHSPKT NĐ - Thành viên

Từ khóa: Đào tạo Nhà giáo Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam

Tên file View
CB2018-10 Đăng nhập để xem
Giải pháp nâng cao hiệu quả tái hòa nhập thị trường lao động đối với lao động làm việc ở nước ngoài hết hạn hợp đồng về nước

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Tống Hải Nam

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phân loại và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Văn Thanh

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2012

Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực logistic

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp cơ sở

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hằng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đổi mới hoạt động đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thế Mạnh, Trường ĐHSPKTNĐ

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Nghiên cứu các giải pháp hợp tác công tư có hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Phan Sỹ Nghĩa

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Nghiên cứu các vấn đề lao động xã hội trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

Loại nhiệm vụ: Chương trình KHCN

Chủ nhiệm: ThS. Lưu Quang Tuấn

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp có hiệu quả đối với người khuyết tật

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.s Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Xây dựng cơ chế điều phối hoạt động giữa các đối tác có liên quan trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Vũ Xuân Hùng

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2019

Giải pháp sử dụng hiệu quả lao động người cao tuổi

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Doãn Thị Mai Hương

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2018

Đánh giá 5 năm thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Hoàng Kim Ngọc

Lĩnh vực: Lao động, việc làm

Năm hoàn thành: 2014

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |