Đổi mới công tác thanh tra nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách bảo hiểm xã hội đến năm 2020
Chủ nhiệm:
ThS. Nguyễn Tiến Tùng
Năm đăng ký:
2015
Năm nghiệm thu:
2016
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 30 năm chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã có những tăng trưởng, phát triển; tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng đang diễn tiến mạnh mẽ, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, tạo môi trường, thị trường thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển. Số lượng doanh nghiệp ngày càng gia tăng tạo cơ hội có việc làm ổn định cho đông đảo lực lượng lao động trong xã hội. Song song với thời cơ, vận hội là những khó khăn, thách thức đối với hoạt động quản lý nhà nước trong tình hình mới, trong đó có hoạt động thanh tra, kiểm tra nói chung và hoạt động thanh tra nói riêng.
Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội ngoài chức năng giúp Thủ trưởng các cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng còn trực tiếp tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành, trong đó có lĩnh vực bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm y tế (BHYT). Tuy đã đạt được những kết quả nhất định, song thực trạng năng lực của thanh tra ngành đã và đang bộc lộ những hạn chế, bất cập trước xu thế phát triển của đời sống kinh tế - xã hội và tiến trình hội nhập quốc tế.
Ngày 22/12/2012, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 - 2020, nhận định một trong những nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém là công tác "thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế còn yếu kém". Ngày 23/7/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1215/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành BHXH Việt Nam đến năm 2020, xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH; 35% lực lượng lao động tham gia BHTN và trên 80% dân số tham gia BHYT, đồng thời giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ đạo thanh tra lao động các cấp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện BHXH.
Trước những yêu cầu của thực tiễn và để đạt được mục tiêu phát triển của chính sách BHXH đến năm 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt, đồng thời để triển khai thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 21-NQ/TW, việc nghiên cứu Đề tài "Đổi mới công tác thanh tra nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách BHXH đến năm 2020" là vấn đề mang tính cấp thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp khả thi cho việc đổi mới công tác thanh tra để thực hiện mục tiêu của chính sách BHXH đến năm 2020.
3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài còn có 03 Chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về thanh tra bảo hiểm xã hội
Chương 2. Thực trạng thanh tra việc thực hiện chính sách BHXH giai đoạn 2010 – 2014
Chương 3. Giải pháp đổi mới công tác thanh tra nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách BHXH đến năm 2020
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thanh tra bảo hiểm xã hội
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thanh tra BHXH, làm rõ vai trò, vị trí, nội hàm và các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động thanh tra BHXH, đồng thời phân tích kinh nghiệm quốc tế và bài học áp dụng cho Việt Nam.
Về vai trò, vị trí: Thanh tra BHXH có sáu vai trò chính sau:
(1) góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách về BHXH;
(2) đảm bảo thực thi chính sách BHXH thống nhất, nhất quán trong hệ thống an sinh xã hội;
(3) đảm bảo tuân thủ chỉ đạo điều hành từ cơ quan cấp trên đến cơ quan cấp dưới;
4) hạn chế lạm dụng quyền lực, phòng ngừa vi phạm pháp luật trong bộ máy nhà nước;
(5) cung cấp thông tin phản hồi và kiến nghị hoàn thiện chính sách;
(6) phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thúc đẩy cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước.
Về nội hàm và tiêu chí: Nội hàm hoạt động thanh tra BHXH bao gồm đánh giá kết quả tổ chức thanh tra (từ cấp Bộ đến cấp Sở) và kết quả thực hiện công việc cá nhân của từng thanh tra viên. Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động thanh tra BHXH vừa định tính vừa định lượng, xây dựng chủ yếu trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn và được xét theo hai góc độ: góc độ từng cuộc thanh tra và góc độ hoạt động thanh tra nói chung.
Về các yếu tố tác động: Bốn yếu tố cơ bản tác động đến chất lượng, hiệu quả hoạt động thanh tra BHXH gồm: cơ sở pháp lý; sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; dư luận xã hội; và các tiêu cực xã hội.
Về kinh nghiệm quốc tế: Đề tài nghiên cứu mô hình thanh tra BHXH của Hoa Kỳ (Văn phòng Tổng Thanh tra - OIG), Thụy Điển (ISF - Cơ quan Thanh tra BHXH độc lập), Hồng Kông (Vụ An sinh xã hội với các đội điều tra gian lận chuyên biệt) và Trung Quốc (hệ thống thanh tra lao động tích hợp). Các bài học có thể áp dụng tại Việt Nam bao gồm: thiết lập cơ chế tiếp nhận báo cáo vi phạm qua website với bảo mật thông tin tuyệt đối; thành lập các đội điều tra gian lận chuyên biệt; và mở rộng kênh tiếp nhận phản ánh đa dạng (đường dây nóng, email, bưu điện, fax).
4.2. Chương 2: Thực trạng thanh tra việc thực hiện chính sách BHXH giai đoạn 2010 - 2014
Chương 2 phân tích toàn diện thực trạng hệ thống pháp luật về BHXH, thực trạng đội ngũ, cơ sở vật chất, quy trình và kết quả hoạt động thanh tra BHXH, từ đó chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân.
Hệ thống văn bản pháp luật về BHXH: Luật BHXH năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành (16 Nghị định, 4 Quyết định Thủ tướng, 28 Thông tư) đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng. Tuy nhiên, qua gần 10 năm thực hiện, đã bộc lộ nhiều hạn chế: quy định về chế độ thai sản, tử tuất, trợ cấp mai táng còn bất cập, chưa thống nhất giữa các văn bản luật; chế tài xử lý vi phạm hành chính (mức phạt tối đa 75 triệu đồng với cá nhân, 150 triệu với tổ chức) chưa đủ sức răn đe; pháp luật hình sự chưa quy định tội danh gian lận BHXH (đến Bộ luật Hình sự năm 2015 mới bổ sung). Pháp luật về thanh tra BHXH cũng chưa có chế tài khi đối tượng cố tình không thực hiện kiến nghị sau thanh tra.
Thực trạng đội ngũ thanh tra: Tính đến hết năm 2014, toàn ngành có 431 công chức, thanh tra viên tại các Sở và 53 người tại Thanh tra Bộ (tổng cộng 471 người, tăng không đáng kể trong 5 năm). Thanh tra Bộ mới thành lập Phòng Thanh tra chính sách BHXH năm 2013 với chỉ 5 cán bộ. Các Sở chưa có thanh tra viên chuyên trách lĩnh vực BHXH. Về chất lượng, 38% chưa qua đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra; 50% có thâm niên dưới 3 năm; trình độ đào tạo đa dạng nhưng thiếu chuyên sâu về BHXH. Cơ sở vật chất còn thiếu thốn: chỉ 72-80% có máy tính; các thiết bị chuyên dùng (ổ cứng di động, D.Com 3G, máy quay) gần như không được trang bị (đạt tỷ lệ 1-2,4%). Cơ sở dữ liệu quản lý đối tượng BHXH chưa tập trung, thiếu đồng bộ, phần mềm quản lý không thống nhất giữa các tỉnh.
Kết quả thanh tra giai đoạn 2012 - 2014: Cả nước tiến hành 3.019 cuộc thanh tra, kiểm tra tại 8.205 đơn vị. Cụ thể: năm 2012 có 726 cuộc thanh tra tại 1.780 đơn vị, ban hành 6.190 kiến nghị; năm 2013 có 593 cuộc tại 1.445 đơn vị, ban hành 5.194 kiến nghị; năm 2014 có 607 cuộc tại 2.056 đơn vị, ban hành 4.112 kiến nghị. Xử phạt vi phạm hành chính tăng mạnh qua các năm: năm 2012 xử phạt 242 đơn vị với 3.439 triệu đồng; năm 2013 xử phạt 242 đơn vị với 3.883 triệu đồng; năm 2014 xử phạt 332 đơn vị với 6.684 triệu đồng. Tiền truy đóng BHXH qua thanh tra năm 2012 là 130.506 triệu đồng, năm 2013 là 159.911 triệu đồng, năm 2014 là 134.579 triệu đồng. Tuy nhiên, năm 2014 vẫn còn 197.857/368.325 đơn vị (53,7%) chưa tham gia BHXH bắt buộc, và 791.336 lao động thuộc đối tượng bắt buộc chưa tham gia.
Những hạn chế chủ yếu và nguyên nhân: Thanh tra mới bao phủ số ít doanh nghiệp; công tác tái thanh tra và theo dõi thực hiện kết luận chưa được tiến hành thường xuyên; chưa có chế tài đối với doanh nghiệp không thực hiện kiến nghị thanh tra; chất lượng một số cuộc thanh tra còn thấp; xử phạt hành chính gặp khó khăn do thiếu phối hợp với tổ chức tín dụng. Nguyên nhân căn bản là thiếu cán bộ, chất lượng đội ngũ hạn chế, phương pháp thanh tra truyền thống kém hiệu quả, chế tài chưa đủ mạnh, nhận thức của người sử dụng lao động còn hạn chế và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chưa hiệu quả.
4.3. Chương 3: Giải pháp đổi mới công tác thanh tra nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách BHXH đến năm 2020
Trên cơ sở phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội và những hạn chế, bất cập đã được chỉ ra, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới công tác thanh tra BHXH theo năm nhóm giải pháp trọng tâm:
Giải pháp 1 - Hoàn thiện cơ chế chính sách: Kịp thời ban hành đầy đủ văn bản hướng dẫn thi hành Luật BHXH năm 2014 (có hiệu lực từ 01/01/2016); bổ sung tội danh gian lận BHXH và trốn đóng BHXH vào Bộ luật Hình sự; nâng mức phạt tiền tối đa trong xử lý vi phạm hành chính; quy định biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự; bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính vào Luật Xử lý vi phạm hành chính cho Tổng Giám đốc, Giám đốc BHXH cấp tỉnh và Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành.
Giải pháp 2 - Hình thành đội ngũ thanh tra chuyên ngành đóng BHXH: Căn cứ Khoản 3 Điều 13 Luật BHXH năm 2014, xây dựng Nghị định về tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH, BHTN, BHYT; hình thành bộ phận tham mưu thanh tra chuyên ngành tại BHXH Việt Nam và BHXH cấp tỉnh trên cơ sở đội ngũ kiểm tra hiện hữu.
Giải pháp 3 - Nâng cao năng lực đội ngũ: Về số lượng: đến năm 2018 Phòng Thanh tra chính sách BHXH đạt 6-8 biên chế; đến năm 2020 đạt 8-10 biên chế; đến năm 2017 có 50% và đến năm 2018 có 100% Thanh tra Sở bố trí được công chức chuyên trách về BHXH. Về chất lượng: xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng toàn diện gồm đào tạo ban đầu (cho thanh tra viên mới dưới 5 năm) và đào tạo chuyên sâu; huy động nguồn lực từ hợp tác quốc tế và phối hợp liên Bộ, ngành.
Giải pháp 4 - Đổi mới phương pháp thanh tra: Tăng cường thanh tra độc lập (một công chức thanh tra độc lập tiến hành cuộc thanh tra, áp dụng với doanh nghiệp vừa và nhỏ); ứng dụng Phiếu tự kiểm tra/Đề cương tự kiểm tra (đối tượng báo cáo qua phần mềm xử lý, thanh tra chỉ tiến hành trực tiếp với các trường hợp có sai phạm); mở rộng thanh tra lồng ghép (kết hợp nội dung BHXH trong các cuộc thanh tra lao động, vệ sinh an toàn lao động); thống nhất quy trình, nội dung thanh tra BHXH áp dụng trên phạm vi cả nước.
Giải pháp 5 - Tăng cường cơ sở vật chất và công nghệ thông tin: Ưu tiên đầu tư trang thiết bị, xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, phần mềm thanh tra thống nhất, hệ thống đường truyền bảo mật; phát triển phần mềm chuyên dụng phục vụ tổng hợp, phân tích, báo cáo và quản lý điều hành trong hệ thống thanh tra BHXH; đào tạo kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin cho toàn bộ đội ngũ thanh tra viên.
Kết luận và kiến nghị
Đề tài đã hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra: (1) Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BHXH và đề xuất giải pháp hoàn thiện làm cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra; (2) Đề xuất hình thành đội ngũ công chức thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH; (3) Đánh giá toàn diện thực trạng đội ngũ và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực; (4) Đề xuất các hình thức thanh tra đổi mới nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả; (5) Đề xuất các điều kiện bảo đảm (cơ sở vật chất, công nghệ thông tin) cho công tác thanh tra BHXH.
Về kiến nghị, đề tài đề nghị Quốc hội sớm hướng dẫn thực thi pháp luật, bổ sung tội danh liên quan đến BHXH vào Bộ luật Hình sự và tăng cường giám sát việc thực hiện chính sách BHXH. Đối với các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, cần tăng cường chỉ đạo, đưa chỉ tiêu phát triển đối tượng BHXH vào nhiệm vụ công tác, định kỳ đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW và xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành rõ ràng trong thực hiện chính sách BHXH.
Thành viên đề tài:
Các thành viên Thanh tra Bộ LĐTBXH
Từ khóa:
Thanh tra bảo hiểm xã hội đổi mới công tác thanh tra chính sách BHXH thanh tra lao động vi phạm pháp luật BHXH thanh tra chuyên ngành nợ đọng BHXH Luật BHXH 2014 an sinh xã hội
|
Tên file |
View |
|
CB2015-05-01.doc
|
Đăng nhập để xem
|