Định hướng và giải pháp phát triển kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Hồng Minh

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã và đang tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)... Điều này tạo ra nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn đối với thị trường lao động Việt Nam, đặc biệt là yêu cầu về chất lượng nhân lực có kỹ năng nghề nghiệp (KNNN) cao.

Thực tế cho thấy, lực lượng lao động Việt Nam hiện nay chủ yếu là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo hoặc đào tạo chưa đạt chuẩn; kỹ năng nghề nghiệp còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của thị trường lao động khu vực và quốc tế. Trong khi đó, hệ thống giáo dục nghề nghiệp (GDNN) còn bộc lộ nhiều bất cập về cơ cấu ngành nghề đào tạo, chất lượng đào tạo chưa gắn với nhu cầu doanh nghiệp, thiếu cơ chế đánh giá và công nhận kỹ năng nghề phù hợp.

Việc nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về thực trạng phát triển kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế để đề xuất định hướng và giải pháp phát triển KNNN phù hợp với bối cảnh hội nhập là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao. Đề tài "Định hướng và giải pháp phát triển kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập" được thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu đó.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài có các mục tiêu cụ thể như sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kỹ năng nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế;

- Phân tích, đánh giá thực trạng kỹ năng nghề nghiệp và hệ thống phát triển kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam hiện nay;

- Nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế về phát triển kỹ năng nghề nghiệp của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới;

- Đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp phát triển kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong bối cảnh hội nhập.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kỹ năng nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Chương 2: Thực trạng kỹ năng nghề nghiệp và hệ thống phát triển kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam.

Chương 3: Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kỹ năng nghề nghiệp.

Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận về kỹ năng nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Chương 1 xây dựng khung lý luận cốt lõi của đề tài. Trước tiên, đề tài làm rõ các khái niệm nền tảng: kỹ năng (skill), kỹ năng nghề nghiệp (occupational/vocational skills), năng lực (competency) và mối quan hệ giữa các khái niệm này. Kỹ năng nghề nghiệp được hiểu là tổng hòa kiến thức, kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp cần thiết để thực hiện thành thạo các nhiệm vụ trong một lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề (TCKNN) đã được xác định.

Đề tài phân loại KNNN theo nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó nhấn mạnh phân loại theo cấp độ (từ cơ bản đến cao cấp), theo lĩnh vực nghề nghiệp và theo loại hình kỹ năng (kỹ năng cứng và kỹ năng mềm). Hệ thống phát triển KNNN được phân tích theo mô hình gồm ba trụ cột: (i) đào tạo kỹ năng nghề thông qua hệ thống GDNN; (ii) đánh giá, công nhận và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (KNNQG); và (iii) kết nối cung - cầu lao động có kỹ năng trên thị trường lao động.

Chương này cũng phân tích tác động của hội nhập quốc tế đối với yêu cầu phát triển KNNN, bao gồm: xu hướng tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC, yêu cầu từ các FTA thế hệ mới về tiêu chuẩn lao động và công nhận lẫn nhau về bằng cấp/chứng chỉ nghề nghiệp, sự thay đổi cơ cấu ngành nghề do chuyển dịch đầu tư và ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là Cách mạng công nghiệp 4.0.

4.2. Chương 2: Thực trạng kỹ năng nghề nghiệp và hệ thống phát triển kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam

Chương 2 phân tích toàn diện thực trạng KNNN của lực lượng lao động Việt Nam và hệ thống phát triển KNNN. Về thực trạng lao động, số liệu cho thấy tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn thấp (khoảng 20-22%); cơ cấu lao động theo trình độ CMKT còn bất hợp lý với hiện tượng "thừa thầy thiếu thợ"; năng suất lao động và KNNN của lao động Việt Nam còn khoảng cách lớn so với các nước trong khu vực.

Về hệ thống GDNN, đề tài đánh giá quy mô, mạng lưới và chất lượng đào tạo của các cơ sở GDNN. Mặc dù đã có nhiều đổi mới, hệ thống GDNN vẫn còn nhiều hạn chế: chương trình đào tạo chưa thực sự tiếp cận chuẩn năng lực (CBT - Competency Based Training); cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên còn thiếu và yếu ở nhiều cơ sở; liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa chặt chẽ; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp có việc làm phù hợp với ngành đào tạo chưa cao.

Về hệ thống đánh giá và công nhận KNNQG, đề tài phân tích quá trình xây dựng và triển khai hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (TCKNNQG) theo Luật Việc làm 2013. Tính đến thời điểm nghiên cứu, một số TCKNNQG đã được ban hành và các Tổ chức đánh giá kỹ năng nghề (TCKNN) đã được cấp phép, song hoạt động đánh giá và cấp chứng chỉ KNNQG còn rất hạn chế về cả phạm vi và số lượng. Chương 2 cũng chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế nêu trên.

4.3. Chương 3: Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kỹ năng nghề nghiệp

Chương 3 nghiên cứu kinh nghiệm phát triển KNNN của một số quốc gia có hệ thống GDNN và KNNN phát triển, bao gồm: Australia, Đức, Hàn Quốc, Singapore và một số nước ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Philippines. Mỗi quốc gia được phân tích theo các chiều cạnh: hệ thống khung trình độ quốc gia (NQF/TVET), mô hình đào tạo nghề, cơ chế đánh giá và công nhận KNNN, hệ thống thông tin thị trường lao động, và cơ chế hợp tác giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp.

Một số kinh nghiệm nổi bật được rút ra: Australia với hệ thống AQF (Australian Qualifications Framework) toàn diện và mô hình Training Packages gắn trực tiếp với yêu cầu của ngành nghề; Đức với hệ thống đào tạo kép (dual system) đạt hiệu quả cao trong gắn kết đào tạo với thực tiễn sản xuất; Hàn Quốc với hệ thống NCS (National Competency Standards) tiên tiến và chính sách thu hút doanh nghiệp tham gia GDNN; Singapore với mô hình SkillsFuture linh hoạt, khuyến khích học tập suốt đời. Kinh nghiệm các nước ASEAN cho thấy tầm quan trọng của khung tham chiếu trình độ ASEAN (AQRF) trong công nhận lẫn nhau về KNNN.

Từ phân tích so sánh, đề tài rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho Việt Nam: sự cần thiết của NQF quốc gia toàn diện; vai trò trung tâm của tiêu chuẩn nghề quốc gia trong toàn bộ hệ thống; cơ chế mạnh mẽ thu hút doanh nghiệp tham gia; hệ thống thông tin và dự báo nhu cầu KNNN; và chính sách đầu tư có mục tiêu vào phát triển KNNN.

4.4. Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Trên cơ sở phân tích lý luận, thực trạng và kinh nghiệm quốc tế, Chương 4 đề xuất các định hướng chiến lược và nhóm giải pháp phát triển KNNN ở Việt Nam. Về định hướng, đề tài xác định: phát triển KNNN theo hướng tiếp cận chuẩn năng lực quốc tế, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động trong nước và khu vực; xây dựng hệ thống KNNN đồng bộ, hiện đại, có khả năng công nhận lẫn nhau với các quốc gia ASEAN và quốc tế; đảm bảo công bằng trong tiếp cận đào tạo và công nhận KNNN cho mọi đối tượng lao động.

Đề tài đề xuất 05 nhóm giải pháp chính: (1) Hoàn thiện thể chế, chính sách về phát triển KNNN, bao gồm xây dựng Khung trình độ quốc gia Việt Nam (VNQF), hoàn thiện hệ thống TCKNNQG và cơ chế đánh giá cấp chứng chỉ KNNQG; (2) Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo trong hệ thống GDNN theo tiếp cận CBT/CBA, tăng cường đào tạo kỹ năng mềm và kỹ năng ngoại ngữ, tin học; (3) Tăng cường hợp tác giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp trong phát triển KNNN, thu hút doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, đào tạo và đánh giá KNNN; (4) Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động và dự báo nhu cầu KNNN theo ngành, lĩnh vực và vùng kinh tế; (5) Mở rộng hợp tác quốc tế trong phát triển KNNN, đặc biệt là hợp tác trong khuôn khổ ASEAN, tăng cường công nhận lẫn nhau về KNNN với các đối tác thương mại chủ yếu.

Đề tài cũng đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện, phân công trách nhiệm giữa các cơ quan, đơn vị liên quan và lộ trình triển khai các giải pháp theo từng giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Thành viên đề tài:

TS. Trương Anh Dũng, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ LĐ-TB&XH, Thư ký khoa học; ThS. Phạm Vũ Quốc Bình, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ LĐ-TB&XH, Thành viên; TS. Phan Chính Thức, Hội Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam, Thành viên; PGS.TS. Mạc Văn Tiến, Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp, Thành viên; TS. Hoàng Ngọc Vinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thành viên; TS. Nguyễn Hữu Chí, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ LĐ-TB&XH, Thành viên; ThS. Lê Thị Thanh Mai, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ LĐ-TB&X

Từ khóa: Kỹ năng nghề nghiệp phát triển kỹ năng nghề nghiệp giáo dục nghề nghiệp tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia khung trình độ quốc gia hội nhập quốc tế thị trường lao động đào tạo nghề đánh giá và công nhận kỹ năng nghề

Tên file View
CT2016-01-07.pdf Đăng nhập để xem
Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý trường hợp đối với trẻ em cần sự bảo vệ

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Thị Nhung

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Thiết kế và chế tạo hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Hoàng Anh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đề xuất giải pháp thúc đẩy việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Chí Trường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp phát triển đào tạo kỹ năng số cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Nghiên cứu, đề xuất khung chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 -2030

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Quang Việt

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Đánh giá việc triển khai hướng dẫn của ASEAN về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Ths. Lê Ngự Bình

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |