Đánh giá 5 năm thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Chủ nhiệm:
TS. Hoàng Kim Ngọc
Năm đăng ký:
2013
Năm nghiệm thu:
2014
Tóm tắt:
1. Tính cấp thiết
Ngày 29/11/2006, Quốc hội khóa XI tại kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Sự ra đời của Luật đã đánh dấu một bước phát triển mới trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của nước ta, khẳng định chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến lĩnh vực này. Việc ban hành Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và hệ thống các văn bản hướng dẫn đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ để điều chỉnh hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, phù hợp với điều kiện trong nước và quốc tế, tạo thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, đồng thời tăng cường công tác quản lý người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Việc triển khai thi hành Luật trong thực tiễn được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ; một số nước tiếp nhận lao động Việt Nam đánh giá cao các quy định trong Luật. Kể từ khi ban hành Luật, số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tăng lên đáng kể, với con số đưa đi bình quân hàng năm là khoảng 80.000 người. Hiện nay có khoảng 500.000 lao động Việt Nam đang làm việc tại trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những nước và vùng lãnh thổ nhận số lượng lớn lao động Việt Nam như Malaysia (khoảng 90.000 người), Đài Loan (trên 80.000 người) và Hàn Quốc (khoảng 45.000 người). Hình thức đi làm việc ở nước ngoài ngày càng đa dạng; thông qua các doanh nghiệp dịch vụ được cấp giấy phép, các tổ chức sự nghiệp, các doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ra nước ngoài, thực tập nâng cao tay nghề và hợp đồng cá nhân.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong quá trình tổ chức thực hiện, một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế khiến việc thi hành trong thực tiễn gặp vướng mắc, gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp và công tác quản lý của nhà nước như còn có xung đột với luật pháp nước tiếp nhận lao động, chưa điều chỉnh hết mọi đối tượng đi làm việc ở nước ngoài, chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý tình trạng lao động bỏ hợp đồng ra ngoài làm việc bất hợp pháp, một số quy định chưa rõ ràng khiến doanh nghiệp có thể “lách luật” cũng như có những quy định chưa phù hợp với thực tiễn, xu thế vận động.... Những vấn đề bất cập nêu trên của Luật đã phần nào ảnh hưởng đến kết quả cũng như mục tiêu đặt ra trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thời gian qua, dẫn tới quy mô lao động đi làm việc ở nước ngoài chưa tương xứng với nhu cầu thực tế của thị trường tiếp nhận và tiềm năng về nguồn lao động, chất lượng nguồn lao động chưa cao, tình trạng lao động vi phạm hợp đồng, bỏ hợp đồng ra ngoài làm việc bất hợp pháp ở nhiều thị trường vẫn ở tỷ lệ cao, thị trường phát triển chậm và thiếu ổn định.
Sau 5 năm thực hiện, việc đánh giá tình hình thực hiện Luật để tìm ra những điểm mạnh để phát huy, nhân rộng và điểm chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động để đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật nhằm hạn chế các tồn tại và đáp ứng tiến trình hội nhập quốc tế là yêu cầu cấp thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá tình hình thực hiện Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng sau 5 năm thực hiện; tìm ra những điểm mạnh để phát huy, nhân rộng và điểm chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động để đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật nhằm hạn chế các tồn tại và đáp ứng tiến trình hội nhập quốc tế.
3. Kết cấu của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Chương II: Đánh giá thực trạng thi hành Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Chương III: Khuyến nghị những nội dung sửa đổi, bổ sung Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
4. Nội dung chính của đề tài
4.1. Chương I: Tổng quan hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Đề tài phân tích bối cảnh mới tác động đến việc hoàn thiện khung khổ luật pháp, đặc biệt là mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền và xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong 5 năm thực thi, hệ thống văn bản hướng dẫn Luật 72 đã được ban hành tương đối đầy đủ và đồng bộ, bao gồm 02 Nghị định, 04 Quyết định của Thủ tướng, 12 Thông tư và Thông tư liên tịch. Tuy nhiên, một số quy định vẫn mang tính hình thức, khả năng thực thi thấp như chính sách đối với lao động sau khi về nước hoặc chính sách đầu tư cho cơ sở dạy nghề tạo nguồn.
Nghiên cứu đi sâu phân tích kinh nghiệm quốc tế từ Philippines, Thái Lan, Indonesia, Pakistan và Trung Quốc. Bài học rút ra cho Việt Nam là: bảo vệ người lao động phải là ưu tiên hàng đầu; Nhà nước giữ vai trò tổ chức, giám sát đặc biệt thông qua các nguồn lực tài chính trực tiếp đến tay người lao động; cần quy định thời hạn hiệu lực của giấy phép hoạt động doanh nghiệp (thường từ 2-4 năm) để tăng tính tuân thủ; và áp dụng hệ thống đăng ký quản lý người lao động trực tuyến.
4.2. Chương II: Đánh giá thực trạng thi hành Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Chương này đánh giá chi tiết tình hình thực hiện của các chủ thể chính:
Đối với doanh nghiệp dịch vụ: Số lượng doanh nghiệp tăng từ 157 (năm 2006) lên 180 (năm 2013), cơ cấu chuyển dịch mạnh từ vốn nhà nước sang tư nhân và cổ phần. Tuy nhiên, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và tranh giành đối tác dẫn đến chi phí môi giới bị đẩy lên cao (đặc biệt tại Đài Loan và Nhật Bản) vẫn chưa được khắc phục. Công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cần thiết tại một số thị trường như Malaysia, Đài Loan còn mang tính hình thức, rút ngắn thời gian sai quy định.
Đối với các tổ chức sự nghiệp: Mô hình EPS đưa lao động sang Hàn Quốc và chương trình IM Japan sang Nhật Bản đạt hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, tại Hàn Quốc, việc không ký hợp đồng đưa lao động đi làm việc và thiếu văn phòng quản lý trực tiếp đã dẫn đến tỷ lệ lao động hết hạn hợp đồng không về nước ở lại cư trú bất hợp pháp lên tới 58,8%.
Đối với các loại hình khác: Việc đưa lao động đi theo hình thức trúng thầu, nhận thầu và đầu tư ra nước ngoài (như Viettel, FPT, HAGL) ngày càng phát triển nhưng hầu hết các doanh nghiệp này không thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.
Đối với người lao động: Thu nhập bình quân đạt khoảng 400 USD/tháng, tích lũy được từ 5.000 – 10.000 USD sau 2 năm. Dù vậy, ý thức kỷ luật và trình độ ngoại ngữ của lao động Việt Nam vẫn là điểm yếu lớn nhất.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Đã thành lập được 9 Ban Quản lý lao động tại nước ngoài và Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước. Tuy nhiên, công tác thanh tra, xử lý vi phạm dù đã được tăng cường nhưng mức xử phạt trước đây (theo Nghị định 144) còn thấp, chưa đủ sức răn đe.
4.3. Chương III: Khuyến nghị những nội dung sửa đổi, bổ sung Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Đề tài đề xuất định hướng phát triển giai đoạn 10 năm tới là đưa quy mô cung ứng đạt 100.000 - 150.000 người/năm, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 50-60%. Các nhóm giải pháp sửa đổi Luật bao gồm:
Về cấp phép: Quy định thời hạn cho Giấy phép hoạt động dịch vụ (từ 2-4 năm) thay vì vô thời hạn như hiện nay để loại bỏ các doanh nghiệp yếu kém. Cụ thể hóa các loại giấy tờ chứng minh vốn pháp định 5 tỷ đồng đối với từng loại hình doanh nghiệp.
Về tổ chức và quản lý: Cho phép doanh nghiệp kết nối với các tổ chức, cá nhân tại địa phương để tư vấn, tạo nguồn dưới sự quản lý của cơ quan lao động cấp tỉnh. Bổ sung quy định bắt buộc về trình độ ngoại ngữ và trình độ chuyên môn của người lãnh đạo điều hành.
Về quản lý lao động: Nâng cao vai trò bảo hộ công dân của Đại sứ quán và Tùy viên lao động. Xây dựng các gói bảo hiểm xã hội, y tế linh hoạt cho lao động tại nước ngoài.
Về ngành nghề đặc thù: Ban hành quy định riêng biệt về độ tuổi, lương tối thiểu và điều kiện làm việc cho lao động giúp việc gia đình và thuyền viên tàu cá.
Thành viên đề tài:
Tập thể cán bộ nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động và Xã hội cùng các chuyên gia thuộc Cục Quản lý lao động ngoài nước (QLLĐNN).
Từ khóa:
Lao động ngoài nước Xuất khẩu lao động Doanh nghiệp dịch vụ Đánh giá thực thi Bảo hộ công dân
|
Tên file |
View |
|
CB2013-01-03.pdf
|
Đăng nhập để xem
|