Cơ sở xây dựng mô hình hội đồng kỹ năng ngành ở Việt Nam

Chủ nhiệm: ThS. Đặng Thị Huyền

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua nâng cao chất lượng đào tạo nghề đang là một vấn đề được toàn xã hội quan tâm. Chất lượng nguồn nhân lực góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả, năng suất của các doanh nghiệp, ngành kinh tế từ đó đóng góp vào phát triển toàn bộ nền kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam đang là một vấn đề cấp bách cần cải thiện hiện nay. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước khác. Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (xếp thứ 11/12 nước Châu Á tham gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94. Đánh giá này cũng cho biết nhân lực nước ta yếu về chất lượng, thiếu năng động và sáng tạo, tác phong lao động công nghiệp.

Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ. Cơ cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý: tỷ lệ Đại học và trên Đại học : trung học chuyên nghiệp : công nhân kỹ thuật là 1 : 1,3 : 0,92 trong khi trên thế giới tỷ lệ này là 1 : 4 : 10. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo năm 2016 ước tính đạt 20,6%.

Một trong những nguyên nhân gây ra những bất cập trên là mối quan hệ lỏng lẻo, thiếu hiệu quả giữa bên đào tạo và thị trường lao động, cụ thể là thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo trong giáo dục và đào tạo nghề. Hiện nay chưa có một cơ quan, tổ chức giữ vai trò và nhiệm vụ trong việc gắn kết, thúc đẩy, cải thiện chất lượng của mối quan hệ hợp tác này.

Hội đồng kỹ năng ngành (HĐKNN) sẽ là các tổ chức độc lập, đại diện các doanh nghiệp thuộc ngành, được thành lập để đưa ra những tiếng nói có thẩm quyền thuộc ngành đó. Các HĐKNN sẽ là đầu mối chịu trách nhiệm và thúc đẩy sự hợp tác, tham gia của các doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo nghề nhằm đảm bảo việc giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu bên sử dụng trong hiện tại và tương lai; giúp cơ sở đào tạo cập nhật nhu cầu xã hội để cải tiến chương trình đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra phù hợp.

Tuy nhiên có thể khẳng định chưa có một nghiên cứu toàn diện nào liên quan đến nội dung hội đồng kỹ năng ngành và việc thành lập mô hình này ở Việt Nam, do vậy việc nghiên cứu đề tài "Cơ sở xây dựng mô hình Hội đồng Kỹ năng ngành ở Việt Nam" qua đó đề xuất mô hình hội đồng kỹ năng ngành tại Việt Nam là vô cùng cần thiết, cấp bách.

2. Mục tiêu nghiên cứu

a. Mục tiêu chung: Nghiên cứu cơ sở và lý luận về mô hình hội đồng kỹ năng ngành từ đó đưa ra những căn cứ làm cơ sở cho xây dựng mô hình hội đồng kỹ năng ngành (SSC) ở Việt Nam.

b. Mục tiêu cụ:

(1) Xác lập cơ sở lý luận về mô hình HĐKNN: chức năng, nhiệm vụ, cơ chế;

(2) Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về mô hình HĐKNN và rút ra bài học cho Việt Nam;

(3) Làm rõ căn cứ pháp lý để xây dựng HĐKNN ở Việt Nam;

(4) Đề xuất mô hình HĐKNN ở Việt Nam.

3. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, báo cáo tổng hợp gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận xây dựng mô hình hội đồng kỹ năng ngành.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn về xây dựng và vận hành mô hình hội đồng kỹ năng ngành.

Chương 3: Đề xuất mô hình hội đồng kỹ năng ngành của Việt Nam và khuyến nghị một số giải pháp xây dựng và vận hành mô hình hội đồng kỹ năng ngành tại Việt Nam.

4. Nội dung chính của đề tài

4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận xây dựng mô hình hội đồng kỹ năng ngành

Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về HĐKNN. Theo ETF (European Training Foundation), HĐKNN là các tổ chức có cấu trúc, cơ cấu làm việc thường trực nhằm xác định và phân tích những nhu cầu kỹ năng, đóng góp vào việc chuẩn bị lực lượng lao động cho một lĩnh vực, ngành kinh tế cụ thể. Theo ILO (2012), HĐKNN cung cấp cầu nối giữa thị trường lao động và hệ thống giáo dục - đào tạo, nhằm mục đích thúc đẩy phát triển kỹ năng cho một ngành cụ thể. Đặc điểm chung của HĐKNN tại các nước thành viên EU: đại diện cho một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế; cung cấp diễn đàn cho ít nhất 2 đối tác liên quan; làm việc có hệ thống và lâu dài; cung cấp phân tích xu hướng thị trường lao động và dự báo nhu cầu kỹ năng.

Về vai trò và chức năng, HĐKNN có hai vai trò chính: (i) cung cấp thông tin liên quan đến hệ thống đào tạo và thị trường lao động thông qua nghiên cứu, hợp tác với cơ sở GDNN để xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng; (ii) tư vấn ra quyết định hoặc thực hiện nội dung liên quan kỹ thuật, bao gồm tư vấn về phát triển hệ thống GDNN, xây dựng tiêu chuẩn nghề, dự báo nhu cầu đào tạo. Tám nhiệm vụ chính của HĐKNN gồm: phân tích thị trường lao động; dự báo nhu cầu kỹ năng; kết nối cung-cầu đào tạo; chuẩn bị tiêu chuẩn nghề; tư vấn chính sách học suốt đời; thúc đẩy hợp tác đào tạo-doanh nghiệp; cung cấp đào tạo lực lượng lao động; và thành lập quỹ đào tạo.

Về cấu trúc tổ chức, HĐKNN gồm Ban lãnh đạo (Trưởng và các Phó Trưởng hội đồng), Ban kỹ thuật (phụ trách chuyên môn) và Ban Thư ký (tư vấn, báo cáo, thông tin). Thành phần tham gia gồm đại diện bên sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Chính phủ. Về kinh phí, có thể được hỗ trợ ban đầu từ nhà nước nhưng cần hướng tới tự chủ hoàn toàn thông qua các dịch vụ tư vấn, xây dựng tiêu chuẩn nghề, nghiên cứu dự báo. HĐKNN có thể được phân loại thành HĐKNN chuyên nghiệp (có nhân viên toàn thời gian) và HĐKNN bán chuyên (đại diện các nhóm lợi ích, làm việc kiêm nhiệm). Chương 1 cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thành lập HĐKNN gồm: chính sách pháp luật và định hướng chiến lược quốc gia; điều kiện kinh tế - xã hội; đặc điểm của từng ngành; năng lực của các bên liên quan.

4.2. Chương 2: Cơ sở thực tiễn về xây dựng và vận hành mô hình hội đồng kỹ năng ngành

Chương 2 phân tích kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và vận hành HĐKNN tại một số quốc gia tiêu biểu. Về Vương Quốc Anh - mô hình điển hình: tính đến năm 2016 có 19 HĐKNN và 4 cơ quan kỹ năng ngành, thuộc Liên đoàn Kỹ năng & Tiêu chuẩn Công nghiệp. Quá trình hình thành trải qua nhiều giai đoạn cải cách: từ các Ban Đào tạo Công nghiệp (ITBs) thành lập năm 1964, qua các Tổ chức đào tạo không theo Luật định (NSTOs), đến các Tổ chức đào tạo công nghiệp (ITOs) và Tổ chức đào tạo quốc gia (NTOs), cuối cùng hình thành 25 HĐKNN từ năm 2002. Bốn mục tiêu chiến lược cốt lõi của HĐKNN Anh: giảm khoảng trống kỹ năng; nâng cao năng suất kinh doanh; tăng cơ hội phát triển kỹ năng; cải thiện cung cấp học nghề và giáo dục đại học. Bài học từ Anh: cần có sự cân bằng giữa vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp và quản lý của nhà nước; cần cơ chế gắn kết thực chất với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Kinh nghiệm của Úc cho thấy hệ thống Industry Skills Councils (ISCs) hoạt động theo mô hình độc lập, được chính phủ cấp phép và tài trợ, có trách nhiệm xây dựng các Training Packages - bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề theo ngành. Tại một số nước Đông Nam Á và Châu Á: Ấn Độ thành lập National Skill Development Corporation (NSDC) và 38 Sector Skill Councils (SSCs) từ năm 2009 theo mô hình hợp tác công-tư (PPP); Thái Lan và Philippines có các tổ chức ngành thực hiện chức năng tương tự với sự tham gia mạnh của doanh nghiệp. Về cơ sở pháp lý và thực tiễn tại Việt Nam, Chương 2 phân tích các mô hình hiện có có tính chất tương đồng như Hội đồng Nghề Du lịch Việt Nam (VTPB) - thí điểm thành lập từ dự án EU, và kinh nghiệm từ mô hình hợp tác đào tạo của Viglacera - doanh nghiệp tiên phong trong gắn kết đào tạo với sản xuất.

4.3. Chương 3: Đề xuất mô hình hội đồng kỹ năng ngành của Việt Nam và khuyến nghị một số giải pháp xây dựng và vận hành

Trên cơ sở định hướng phát triển nguồn nhân lực theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng ("Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực") và Nghị quyết 29-NQ/TW, Chương 3 xác định quan điểm: việc thành lập HĐKNN cần được thực hiện theo mô hình thí điểm ở một số ngành trọng điểm; xuất phát từ nhu cầu nội tại của ngành; ưu tiên các ngành có sẵn quan hệ hợp tác với bên đào tạo; huy động nguồn lực trực tiếp từ ngành. Các tiêu chí lựa chọn ngành thí điểm gồm: ngành kinh tế mũi nhọn được ưu tiên đầu tư; có số lượng lao động lớn và nhu cầu tăng năng suất; nằm trong danh mục ngành công nhận lẫn nhau trong ASEAN (như Du lịch, Xây dựng); dự báo cần số lượng lớn nhân lực đạt chuẩn khu vực/quốc tế.

Đề tài đề xuất 02 mô hình HĐKNN cho Việt Nam:

(1) Mô hình 1 - HĐKNN là cơ quan thuộc sở hữu bên sử dụng lao động, trực thuộc Bộ, ngành: do các Bộ, ngành đề xuất thành lập và được Chính phủ cấp phép, có sự phối hợp của Bộ GD-ĐT, Tổng cục Dạy nghề, Cục Việc làm và Vụ Kỹ năng nghề; tài chính được hỗ trợ một phần từ Chính phủ và tiến tới tự chủ hoàn toàn (giống mô hình Anh). Ưu điểm: tính khả thi cao, dễ huy động chuyên gia; nhược điểm: thiếu linh hoạt, phụ thuộc nguồn tài chính nhà nước.

(2) Mô hình 2 - HĐKNN là cơ quan độc lập thành lập từ Hiệp hội ngành nghề: được cấp phép bởi cơ quan chịu trách nhiệm với Chính phủ, hoạt động tự chủ như doanh nghiệp; thành phần gồm chuyên gia từ các Bộ, ngành, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo theo cơ chế kiêm nhiệm; tự chủ hoàn toàn về tài chính thông qua các dịch vụ cung cấp. Ưu điểm: linh hoạt, năng động; nhược điểm: khó đảm bảo nguồn tài chính bền vững trong giai đoạn đầu.

Bốn nhóm giải pháp xây dựng và vận hành HĐKNN tại Việt Nam được đề xuất:

(1) Hoàn thiện cơ chế chính sách: hình thành khung pháp lý bằng cách đưa nội dung HĐKNN vào Luật GDNN, Luật Doanh nghiệp, Luật Việc làm; xây dựng cơ chế để doanh nghiệp tham gia; phân định rõ vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan; dài hạn cần chuyển giao trách nhiệm xây dựng TCKNNQG cho các HĐKNN.

(2) Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các bên liên quan thông qua hội thảo chuyên môn, truyền thông về vai trò, lợi ích của HĐKNN.

(3) Xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động và GDNN làm cơ sở dữ liệu cho hoạt động phân tích, dự báo nhu cầu kỹ năng của HĐKNN.

(4) Tổ chức thực hiện: thành lập Ban chỉ đạo do Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH làm trưởng ban với thành phần gồm đại diện Bộ GD-ĐT, VCCI, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên minh HTX và một số Hiệp hội nghề nghiệp trọng điểm.

Thành viên đề tài:

ThS. Lê Thị Hồng Liên, Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề, Tổng cục Dạy nghề, Thư ký đề tài; TS. Nguyễn Quang Việt, Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề, Tổng cục Dạy nghề, Thành viên chính; KS. Cao Quang Đại, Tổng cục Dạy nghề, Bộ LĐ-TB&XH, Thành viên chính; ThS. Hoàng Vân Anh, Hội đồng Anh Việt Nam, Thành viên; TS. Lê Anh Tuấn, Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thành viên; ThS. Nguyễn Thị Hải Yến, Trường Cao đẳng nghề Viglacera, Thành viên.

Từ khóa: Hội đồng kỹ năng ngành kỹ năng nghề tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia giáo dục nghề nghiệp đào tạo nghề gắn kết đào tạo với doanh nghiệp thị trường lao động phát triển nguồn nhân lực hội nhập ASEAN

Tên file View
CT2016-01-05.pdf Đăng nhập để xem
Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Minh Tuấn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý trường hợp đối với trẻ em cần sự bảo vệ

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Thị Nhung

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Thanh Huyền

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Thiết kế và chế tạo hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Lê Hoàng Anh

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Hương

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Quản lý nhà nước đối với tổ chức đại diện người lao động bên cạnh công đoàn

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Mạnh Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đề xuất giải pháp thúc đẩy việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Chí Trường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Giải pháp phát triển đào tạo kỹ năng số cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Quang Hưng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2022

Nghiên cứu, đề xuất khung chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 -2030

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Quang Việt

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Đánh giá việc triển khai hướng dẫn của ASEAN về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: Ths. Lê Ngự Bình

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2021

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |